Phần I
I.
Đấy là một ngày tháng tư, trời quang
mây tạnh, khá lạnh, đồng hồ
điểm mười ba tiếng. Cằm thu vào tận ngực để tránh
cơn gió rét cắt da,
Winston Smith vội vã chui tọt qua cánh cửa
kính khu chung cư Chiến
Thắng, thế mà vẫn không ngăn được đám
bụi cát cuộn vào theo.
Tiền sảnh sặc mùi bắp cải luộc và mùi
thảm cũ, mốc meo. Trên tường,
đối diện ngay lối vào là một bức tranh to, nhiều
màu; phải nói là quá
to so với căn phòng. Đấy là bức vẽ một
khuôn mặt rộng hơn một mét,
khuôn mặt một người đàn ông tuổi chừng
bốn lăm, râu rậm, thô, có sức
lôi cuốn. Winston bước về phía cầu thang. Thử
thang máy làm gì cho phí
công. Ngay cả những lúc thuận lợi nhất
nó cũng ít khi làm việc,
còn lúc
này lại giữa ban ngày, tất nhiên điện
đã bị cúp rồi. Đây là một
phần
của phong trào tiết kiệm vì người ta đang chuẩn
bị cho tuần lễ Hận Thù.
Winston phải leo lên bảy tầng lầu, anh ta đã sang
tuổi bốn mươi lại bị
loét do giãn tĩnh mạch bên
trên mắt cá chân nên đi rất
chậm, phải dừng
lại nghỉ mấy lần. Trên tường đối diện với mỗi chiếu nghỉ lại
có một bức
vẽ khuôn mặt người đàn ông nọ.
Các bức tranh đều được vẽ rất khéo, đứng
ở đâu ta cũng thấy đôi mắt người trong tranh đang
nhìn chằm chằm vào
mình. ANH CẢ ĐANG QUAN SÁT BẠN - dưới mỗi bức
tranh đều có hàng chữ như
thế.
Trong phòng một giọng du dương đang nói về việc
sản xuất
gang, có
dẫn cả các số liệu. Tiếng nói phát ra
từ một tấm
kim loại gắn chặt vào
bức tường bên phải, trông như một chiếc gương mờ.
Winston
vặn núm loa,
tiếng nói có nhỏ đi, nhưng vẫn rõ.
Cái
máy này (gọi là màn
vô tuyến)
có
thể điều chỉnh cho nhỏ đi nhưng không thể nào tắt
hẳn
được. Winston đi
về phía cửa sổ; vốn đã gầy lại mặc đảng phục
nên
trông anh càng có vẻ
ốm o hơn. Tóc anh màu sáng,
khuôn mặt ửng đỏ
đẩy vảy tróc do xà phòng
kém chất lượng, do dao cạo cùn và
vì
mùa đông hanh khô vừa kết
thúc.
Bên ngoài trời còn lạnh lắm. Khắp nơi,
bụi
và giấy vụn bị gió cuốn
thành những vòng xoáy bay tứ tung
trên mặt
đất và mặc dù có nắng, bầu
trời rất xanh nhưng bao trùm lên tất cả, nếu
không
kể những tấm biểu
ngữ, vẫn là một màu xám
chán ngắt.
Góc phố nào cũng có tranh vẽ
khuôn
mặt người đàn ông rậm râu nọ. Bức tường
căn
nhà đối diện cũng có. ANH
CẢ ĐANG QUAN SÁT BẠN - hàng chữ bên
dưới ghi như
thế và đôi mắt đen của
ông ta đang nhìm chằm chằm vào Winston.
Phía
dưới bức tranh, vắt ngang
qua phố là một biểu ngữ đã bị đứt một
góc, bay
phất phơ trước gió, chữ
CHUANH ghi trên đó đôi lúc bị
cái
góc rách che không thể nhìn
rõ được.
Phía xa, một chiếc trực thăng đang luồn lách giữa
các mái nhà, có
lúc
trông nó như treo nguyên một chỗ hệt như
một con
nhặng xanh, sau đó nó
bỗng bay vút theo một đường cong và biến mất. Đấy
là máy bay cảnh sát,
họ tuần tra bằng cách nhìn qua cửa sổ
nhà
dân. Nhưng tuần tra thì không
đáng ngại. Đáng ngại là Cảnh
Sát Tư Tưởng
cơ.
Sau lưng Winston màn vô tuyến vẫn tiếp tục
câu
chuyện về luyện gang
và việc hoàn thành kế hoạch ba năm lần
thứ
chín. Màn vô tuyến còn
làm
việc thu và phát nữa. Chỉ cần Winston
nói, nếu
không quá nhỏ như kiểu
thì thầm, thì màn vô tuyến
sẽ thu và
truyền đi ngay lập tức, hơn nữa
nếu đứng trong vùng quan sát của màn
vô
tuyến thì anh không chỉ bị nghe
lén mà còn bị nhìn trộm
nữa. Tất
nhiên không ai biết là có
thật sự bị
theo dõi hay không. Cảnh Sát Tư Tưởng
theo
dõi thường xuyên hay theo
thời gian biểu nào thì không ai
rõ, chỉ
có thể đoán mò mà
thôi. Không
loại trừ khả năng là họ theo dõi tất cả mọi người
suốt
ngày đêm. Không
ai dám chắc, nhưng chắc chắn là họ có
thể theo
dõi bất kì ai vào bất kì
lúc nào họ muốn. Người ta buộc phải sống,
mà quả
thật họ đã sống, theo
thói quen đã trở thành bản năng rằng
lời
nói nào cũng có thể bị nghe
lén và khi còn ánh
sáng thì
hành động nào cũng có thể bị theo
dõi.
Winston quay lưng lại phía màn vô
tuyến. Thế an
toàn hơn, dù anh
biết rằng chỉ cần nhìn lưng người ta cũng có thể
phát hiện được khối
thứ. Bên ngoài cửa sổ, cách
đây khoảng một
cây số lừng lững một toà nhà
màu trắng nổi lên giữa khung cảnh xám
ngoét
của thành phố, đấy là toà
nhà Bộ Sự Thật, nơi anh làm việc. London,
thành
phố quan trọng nhất của
Đường Bay I, thành phố đông dân thứ ba
của Oceania
trông như thế đấy, ý
nghĩ pha chút khinh bỉ mơ hồ vụt lướt qua đầu Winston. Anh
cố
nhớ lại
thời niên thiếu, lúc đó London cũng như
thế
này ư? Lúc nào cũng là
những ngôi nhà có từ thế kỉ XIX cũ
nát, phải
chống bằng cột gỗ, cửa sổ
táp giấy các tông, mái lợp
tôn
sóng và tường những khu vườn thì
nghiêng
ngả như say rượu như thế này ư? Lúc
nào cũng
có những hố bom đầy bụi
vữa với những cây liễu đang cố vươn mình
lên khỏi
đám xà bần và những
khoảng trống do bom phát quang, trên đó
là
những dãy nhà gỗ trông như
chuồng gà thế kia ư? Nhưng hoá ra vô
ích,
anh chẳng thể nhớ được gì,
ngoài những tấm áp-phích
sáng nhấp
nháy trên nền không màu
và thường
là
rất khó hiểu.
Bộ Sự Thật, nói theo Ngômo
[1]
là Bôta trông khác hẳn những
ngôi nhà xung quanh. Đấy là một cấu
trúc
hình kim tự tháp bằng bê tông
trắng toát, tầng tầng lớp lớp, cao đến
trên ba trăm mét. Từ đây có
thể trông thấy ba khẩu hiệu của Đảng được
kẻ rất rõ và đẹp ngay trên mặt tiền
tòa nhà:
CHIẾN TRANH LÀ
HÒA BÌNH
TỰ DO LÀ NÔ LỆ
NGU DỐT LÀ SỨC MẠNH
Người ta đồn rằng Bộ Sự Thật có ba ngàn
phòng ở bên trên và những
chi nhánh tương ứng ở dưới mặt đất nữa. Ở London
còn có ba toà nhà
tương tự về hình dáng và
kích thước như thế. Chúng cao hơn hẳn
các toà
nhà xung quanh nên từ nóc chung cư
Chiến Thắng có thể trông thấy cả bốn
cái. Đấy là tổng hành dinh của bốn Bộ,
bộ máy của chính phủ nằm trong
bốn toà nhà này. Bộ Sự Thật theo
dõi lĩnh vực tin tức, giải trí, giáo
dục và nghệ thuật. Bộ Hòa Bình theo
dõi lĩnh vực chiến tranh. Bộ Tình
Yêu theo dõi lĩnh vực trật tự và luật
pháp. Bộ Ấm No theo dõi lĩnh vực
kinh tế. Theo Ngômo thì đấy là
các Bộ: Bôta, Bôbi, Bôti
và Bôno.
Ngôi nhà Bộ Tình Yêu
trông rất khiếp, không hề có một cửa sổ
nào.
Nói cho ngay thì Winston chưa vào
bên trong bao giờ, thậm chí anh chưa
từng đến gần quá nửa cây số. Chỉ được
vào đấy khi có việc, mà phải đi
theo những lối ngoằn ngoèo, xung quanh rào kẽm
gai, phải vượt qua nhiều
cánh cửa thép và những ụ
súng máy bí mật nữa. Ngay
trên những con phố
dẫn đến hàng rào bên ngoài
đã có những người bảo vệ đồng phục đen, mặt
đằng đằng sát khí tay lăm lăm dùi cui
đứng gác rồi.
Winston quay người lại. Nét mặt anh vụt trở nên
tươi tỉnh, ai cũng
phải giả vờ thế khi đứng trước màn vô tuyến, anh
đi về phía gian bếp
nhỏ ở đầu kia của căn hộ. Ra khỏi Bộ vào giờ này
là mất bữa ăn trưa, ở
nhà chỉ còn một lát bánh
mì đen khô, nhưng phải để dành đến
sáng mai.
Anh lấy từ trên chạn bát xuống một chai nước
không màu có dán
nhãn
trắng: RƯỢU GIN CHIẾN THẮNG. Lọai rượu này có
mùi hôi hôi khó chịu y
như mùi rượu gạo của Tàu. Winston rót
đầy một li và lấy hết can đảm dốc
vào miệng như uống thuốc.
Mặt anh lập tức ửng đỏ, mấy giọt nước mắt trào ra. Chua
không khác
gì axit nitric, hơn nữa khi nuốt còn
có cảm
giác như bị nện dùi cui vào
lưng. Nhưng cơn xót trong dạ dày cũng mau qua
và
mọi vật bỗng như sống
động hơn, vui hơn. Anh cầm bao thuốc lá Chiến Thắng
nhàu
nát để rút lấy
một điếu, nhưng do không chú ý
nên đã
dốc điếu thuốc xuống và thế là
tất cả thuốc đều rơi ra ngoài. Điếu thứ hai anh giữ cẩn thận
hơn. Anh
quay lại phòng khách và ngồi xuống
bên cạnh
cái bàn phía trái
màn vô
tuyến. Anh lấy từ ngăn kéo ra cái quản
bút, lọ
mực, cuốn sổ dày gáy đỏ,
bìa màu cẩm thạch.
Không hiểu vì sao cái màn
vô tuyến lại được lắp ở một chỗ ấy.
Thường thì nó được lắp ở phía cuối để
có thể quan sát khắp phòng, nhưng
cái này lại lắp trên bức tường
dài, đối diện với cửa sổ. Winston ngồi
vào cái chỗ xây thụt ở gần
góc phòng, chắc người ta định đặt kệ
sách ở
đó, chỗ này nằm phía bên
màn vô tuyến. Ngồi ở đó, lại ngả hẳn về
phía
sau thì màn vô tuyến chịu. Nghe trộm
thì có thể, nhưng nếu anh cứ ngồi
ở đó thì họ không thể nào
trông thấy được. Có lẽ một phần do cách
bố
trí căn phòng hơi bất bình thường như
thế mà anh nảy ra ý định làm
cái
công việc anh sắp làm đây.
Nhưng còn do cuốn sổ nữa. Cuốn sổ đẹp quá. Giấy
mịn,
đã ngả vàng vì
năm tháng, loại giấy này phải được sản xuất
ít
nhất là bốn chục năm về
trước. Nhưng anh cho rằng có thể trước nữa. Anh
nhìn thấy
nó trên quầy
một cửa hàng đồng nát trong một khu ổ chuột (cụ
thể khu
nào thì anh
không nhớ) và lập tức nảy ra ý định
phải mua bằng
được. Đảng viên không
được vào các cửa hàng bình
thường
(buôn bán trên thị trường tự do,
người ta vẫn gọi thế), nhưng nguyên tắc này
không
được tuân thủ tuyệt
đối vì nhiều thứ như dây giày hay dao
cạo râu
chỉ có thể mua bằng cách
này mà thôi. Anh vội đảo mắt
nhìn quanh rồi
chui ngay vào cửa hàng và
mua cuốn sổ giá hai đô la rưỡi. Lúc
đó anh
cũng không biết sẽ dùng cuốn
sổ vào việc gì. Anh đút nó
vào cặp
và vội lủi về nhà. Dù không
có chữ
nào, cuốn sổ cũng là bằng chứng tố cáo
chính chủ nhân của nó.
Việc đầu tiên anh sẽ làm là bắt đầu ghi
nhật
kí. Đấy không phải là
một hành động phạm pháp (không
có việc
gì phạm pháp vì đã
không còn
luật pháp nữa), nhưng nều bị phát hiện
thì
có thể bị tử hình hoặc ít
nhất cũng hai mươi lăm năm khổ sai. Winston lắp ngòi
bút
và liếm lớp mỡ
chống gỉ đi. Bút là một công cụ cổ xưa,
ít
được sử dụng ngay cả để kí,
mua nó không phải dễ, lại phải lén
lút nữa,
nhưng anh vẫn cố mua bằng
được, đơn giản chỉ vì anh nghĩ rằng đối với những tờ giấy
mịn
như thế
thì phải dùng bút mực chứ
không thể
là bút chì hoá học được.
Nói cho
ngay, anh không quen viết bằng tay. Anh chỉ viết những mẩu
ghi
chú
ngắn, ngoài ra anh thường đọc cho máy ghi, nhưng
cách đó dĩ nhiên là
không thể dùng được cho mục đích
này. Anh ấn
ngòi bút vào lọ mực nhưng
lại lưỡng lự trong giây lát. Một cơn
rùng
mình nhẹ chạy khắp khoang
bụng. Chỉ cần chạm ngòi bút vào giấy
là
xong, không thể nào quay lại
được nữa. Anh bắt đầu viết bằng những chữ nhỏ tí, ngả
nghiêng:
Ngày 4 tháng tư năm 1984.
Anh khẽ ngả người ra sau. Cảm giác bất lực bao
trùm khắp cơ thể.
Trước hết anh không biết năm nay có
đúng là năm 1984 hay không.
Không
nghi ngờ gì rằng con số gần đúng như thế
vì anh biết chắc tuổi của mình
là ba chín, mà anh sinh khoảng năm
1944 hay 1945, nhưng bây giờ thì
chẳng có cách nào xác định
được chính xác, sai số phải khoảng một hai
năm.
Anh bỗng tự hỏi: ta đang viết nhật kí cho ai đây?
Cho tương lai,
cho người chưa ra đời. Tâm trí anh treo
bên trên cái ngày
tháng đáng
ngờ được ghi trên tờ giấy và bất ngờ đụng phải từ
nướcđôi
của
Ngômo. Đây cũng là lần đầu
tiên anh nhận thức được mức độ nghiêm trọng
của công việc mà anh đã khởi sự.
Làm sao có thể giao thiệp với tương
lai? Thực chất là không thể được. Tương lai hoặc
là sẽ giống như hiện
tại, sẽ chẳng ai thèm nghe; hoặc là tương lai sẽ
khác hiện tại và nếu
thế hoàn cảnh của anh sẽ chẳng còn ý
nghĩa gì với họ.
Anh ngồi yên lặng ngắm tờ giấy một lúc.
Vô tuyến chuyển sang phát
nhạc hành khúc. Có điều lạ
là anh cảm thấy không những không
có khả
năng viết ra ý nghĩ của mình mà
còn quên không biết mình đang
định nói
gì nữa. Anh đã chuẩn bị cho ngày
hôm nay suốt mấy tuần lễ liền và anh
không ngờ rằng chỉ lòng dũng cảm không
chưa đủ. Viết thì có gì
khó. Chỉ
cần ghi ra giấy những cuộc độc thoại không ngừng diễn ra
trong đầu anh
hết năm này qua tháng khác. Nhưng
lúc này những cuộc độc thoại bỗng
ngừng bặt. Còn chỗ loét do giãn tĩnh
mạch thì ngứa không chịu được. Anh
không dám gãi vì nếu
gãi thì sẽ bị viêm ngay. Tiếng
tích tắc của chiếc
đồng hồ vẫn điểm đều đều. Trong tâm trí anh chỉ
còn một tờ giấy trắng
nằm trước mặt, cơn ngứa phía bên trên
mắt cá chân, tiếng nhạc ồn ào
và
cảm giác lâng lâng do li rượu vừa mới
uống gây ra mà thôi.
Rồi bất ngờ anh viết - đơn giản là do sợ, anh cũng
không biết mình
viết gì nữa. Anh viết những hàng chữ khi
lên khi xuống như trẻ con, lúc
đầu quên viết hoa rồi sau quên luôn cả
đánh dấu chấm câu.
Ngày 4
tháng tư năm 1984. Hôm
qua đi xem phim. Toàn phim chiến đấu. Một phim hay, một
chiếc tàu thuỷ
đầy người tị nạn ở Địa Trung Hải bị ném bom. Cả
khán phòng thích chí
khi xem cảnh một gã đàn ông to lớn đang
bơi, trong khi một chiếc trực
thăng đuổi theo sau, đầu tiên thấy gã lặn hụp như
cá heo, sau đó thấy
gã qua ống ngắm từ trên máy bay, sau
đó gã bị bắn thủng lỗ chỗ như mặt
sàng, mặt biển bỗng biến thành màu
hồng, gã chìm nhanh y như nước bị
hút qua các lỗ thủng trên người vậy.
khi gã chìm đến đáy thì cả
khán
phòng phá lên cười. Sau đó
là một cái xuồng đầy trẻ con, bên
trên lại
một chiếc trực thăng nữa. trên mũi xuồng là một
người phụ nữ trung
niên, có lẽ là Do Thái, tay
bế một đứa nhỏ chừng ba tuổi. Đứa nhỏ gào
lên vì sợ, đầu cứ dúi vào
ngực mẹ còn bà ta thì vừa vỗ về vừa
lấy tay
che cho con mặc dù chính bà ta cũng
sợ, mặt xanh như tầu lá. bà ta lấy
tay che cho con, làm như có thể ngăn được đạn
không bằng. sau đó cái
trực thăng ném xuống một quả bom loại hai mươi cân
tiếng nổ kinh hoàng
và cái thuyền tan ra thành từng mảnh
vụn. sau đó là một cảnh tuyệt vời
một cánh tay trẻ con bay lên, vọt thẳng
lên trời chắc là người ta quay
từ mũi chiếc trực thăng và những tiếng vỗ tay ồn
ào vang lên từ những
hàng ghế dành riêng cho đảng
viên nhưng từ chỗ dành cho bọn cu li
thì
có một phụ bỗng gào lên, bà
ta bảo không được chiếu những cảnh đó cho
trẻ con xem và cứ thế cho đến khi cảnh sát phải
lôi phải lôi bà ta ra
chắc là họ chẳng làm gì đâu
bọn cu li thì chấp làm gì phản ứng của
chúng vẫn thế ai thèm quan
tâm…
Winston ngừng viết, môt phần vì tay bị
tê. Anh cũng không hiểu
vì sao lại viết ra chuyện nhảm nhí
này. Nhưng điều đáng ngạc nhiên
là
trong khi anh viết thì một chuyện hoàn
toàn khác bỗng hiện lên một
cách
rõ ràng trong trí nhớ đến nỗi
có thể viết ngay ra được. Bây giờ thì
anh
hiểu rằng chính vì sự kiện đó
mà anh quyết định đi về nhà để ghi nhật
kí trong ngày hôm nay.
Chuyện đó xảy ra trong Bộ sáng nay, nếu như
có thể
dùng chữ "xảy ra" với những chuyện mơ hồ kiểu đó.
Lúc ấy gần mười một giờ đúng, trong Ban
Tài Liệu,
nơi Winston công
tác, người ta đã mang ghế từ các ngăn
ra, để tập
trung vào giữa phòng,
đối diện với màn vô tuyến lớn, chuẩn bị cho Hai
Phút Hận Thù. Winston
vừa chuẩn bị ngồi vào chỗ, đấy là một trong
các
dãy ghế giữa nhà, thì
có hai người mà anh chỉ nhìn thấy chứ
chưa
nói chuyện bao giờ bất ngờ
bước vào phòng. Một người là con
gái, anh
thường gặp cô ta trong hành
lang. Anh không biết tên cô, chỉ biết
rằng cô
làm ở Ban Sáng Tác. Anh
nghĩ thế vì có lần thấy cô cầm cờ
lê, tay đầy
dầu mỡ, chắc là cô ta
đang sửa máy viết văn. Cô ta khoảng hai mươi bảy
tuổi, mặt
đầy tàn
nhang, tóc đen dày, dáng tự tin, nhanh
nhẹn, động
tác dứt khoát. Một
chiếc thắt lưng hẹp màu đỏ tươi, biểu tượng của Hội Thanh
Niên Chống
Tình Dục, quấn mấy vòng xung quanh eo bộ đồng
phục
càng làm nổi rõ cái
bụng thon nhỏ của cô. Winston thấy khó ưa
cô ta ngay
từ lần gặp đầu
tiên. Anh biết vì sao. Cô ta sặc
mùi
sân khúc quân cầu và buồng
tắm
nước lạnh, mùi của những chuyến dã ngoại
và
thái độ cuồng tín ra mặt.
Anh không thích đàn bà, đặc
biệt là
những cô gái trẻ, xinh đẹp. Đàn
bà,
nhất là các cô gái trẻ,
thường là
những kẻ cuồng tín, những người sẵn
sàng nuốt sống ngay mọi khẩu hiệu của Đảng, những
tên chỉ
điểm tự
nguyện, những kẻ đánh hơi bất kì biểu hiện phi
chính thống nào. Nhưng
cô này có vẻ nguy hiểm hơn cả. Một lần
hai người
gặp nhau ở hành lang,
cô ta liếc xéo như xoáy vào
người anh,
lúc đó một nỗi sợ vô hình
như
choán hết tâm can anh. Anh ngờ rằng cô
ta
chính là mật vụ của Cảnh Sát
Tư Tưởng. Chắc là không phải. Dù sao
anh cũng cảm
thấy lúng túng, cảm
thấy vừa sợ vừa ghét mỗi lần gặp cô ta.
Người thứ hai tên là O’Brien, đảng
viên Đảng Nội Bộ, nghe nói làm
to và ở xa nên Winston hiểu rất mù mờ.
Vừa nhìn thấy người mặc đồng
phục áo đen của Đảng Nội Bộ đến gần là những
người ngồi trước màn vô
tuyến lập tức im bặt. O’Brien là một người cao,
to, cổ bự, khuôn mặt
thô đầy vẻ hài hước. Hình thức tuy dữ
dằn nhưng trông anh ta cũng khá
hấp dẫn. Anh ta có thói quen lấy tay sửa lại gọng
kính ở trên mũi, thói
quen này lạ kì thay lại có vẻ như tố
cáo rằng anh ta là một người quân
tử. Một nhà quí tộc thế kỉ mười tám
đang mời thuốc lá, người nào còn
có
khả năng so sánh theo cách ấy, sẽ nghĩ như thế
khi nhìn thấy thói quen
đó của anh ta. Trong mười năm lại đây Winston chỉ
gặp anh ta khoảng
chục lần. Anh cảm thấy mến O’Brien không chỉ bởi sự
tương phản giữa
thái độ tao nhã và vẻ bề
ngòai lực lưỡng như võ sĩ của anh ta. Trong
đáy sâu tâm hồn Winston vẫn ngờ rằng,
có thể không phải là ngờ mà
chỉ
là hi vọng rằng O’Brien không phải
là kẻ cuồng tín. Nét mặt anh ta gợi
cho người khác nghĩ như vậy. Nhưng cũng có thể
đấy không phải là sự
nghi ngờ giáo lí, mà đơn giản
có thể đấy chỉ là trí thông
minh cũng
nên. Nhưng dù sao hình thức
bên ngoài cho thấy anh ta là một người
có
thể nói chuyện, nếu có điều kiện gặp
riêng và tránh được màn
vô tuyến.
Winston chưa thử kiểm tra ước đoán này lần
nào: thực ra là không thể
làm được. O’Brien nhìn đồng hồ đeo tay,
thấy là đã gần đúng mười một
giờ, anh ta quyết định ở lại Ban Tài Liệu cho đến hết Hai
Phút Hận Thù.
Anh ngồi cùng hàng với Winston, chỉ
cách hai dãy ghế. Một người đàn
bà
nhỏ nhắn, tóc hung vẫn làm việc trong ngăn
bên cạnh Winston ngồi trên
cái ghế ngăn giữa hai người. Cô gái
tóc đen ngồi ngay phía sau Winston.
Một giọng nói nghe rùng rợn, ghớm ghiếc như tiếng
ma sát của một
cái máy cực to không dầu bôi
trơn bỗng bật ra từ màn vô tuyến gắn ở
phía cuối căn phòng. Âm thanh
đó khiến người ta có cảm giác
ghê ghê
trong từng kẽ răng và tóc gáy
thì dựng lên. Hận Thù bắt đầu.
Cũng như mọi khi, khuôn mặt Emmanuel Goldstein, kẻ
thù của nhân
dân, hiện lên trên màn ảnh.
Tiếng húyt gió chế giễu nổi lên
đây đó.
Người đàn bà nhỏ bé tóc
hung rít lên tỏ vẻ vừa khinh vừa sợ. Goldstein
là một tên phản bội, một người ngày xưa
(từ bao giờ thì không ai nhớ
nổi) vốn nằm trong ban lãnh đạo Đảng, gần như
cùng cấp với Anh Cả,
nhưng sau đó lại tham gia hoạt động phản cách
mạng, bị kết án tử hình
rồi bí mật vượt ngục và biến mất. Chương
trình Hai Phút Hận Thù thay
đổi mỗi ngày, nhưng nhân vật chính bao
giờ cũng là Goldstein. Hắn là
tên phản bội đầu sỏ, là kẻ hủy hoại thanh danh của
Đảng. Chính lí
thuyết của hắn là nguồn gốc mọi tội ác chống
Đảng, mọi hành vi phá
hoại, phản bội, lệch lạc. Hắn vẫn sống ở đâu đó
và tiếp tục họat động
phá hoại ngầm: có thể là ở nước
ngoài, dưới sự bảo trợ của những ông
chủ ngoại quốc, mà cũng có thể, như thỉnh thoảng
có người nói, là ở
ngay tại Oceania này.
Winston cảm thấy khó thở. Cứ mỗi lần nhìn thấy
mặt
Goldstein là
trong anh lại xuất hiện một mớ những tình cảm lộn xộn. Đấy
là một khuôn
mặt Do Thái điển hình, được những lọn
tóc mềm điểm
bạc bao quanh, bộ
râu thưa, một khuôn mặt thông minh nhưng
khó
ưa, nhưng cái mũi nhỏ và
dài, cặp kính trễ xuống tận cánh mũi,
lại chứng tỏ
rằng đấy là một con
người ngờ ngệch, bạc nhược. Khuôn mặt giống như mặt cừu,
giọng
nói cũng
be be y hệt như vậy. Cũng như mọi khi, Goldstein tấn công
vào đường lối
của Đảng, lí lẽ của hắn đầy ác ý
và cường
điệu không lừa được cả trẻ
con, nhưng có sức thuyết phục, thính giả
có thể
vô tình nghĩ rằng những
người khác, không tỉnh táo bằng
mình
có thể bị hắn lôi kéo cũng
nên.
Hắn lăng mạ Anh Cả, hắn tố cáo chế độ Đảng trị, hắn
yêu
cầu kí ngay hoà
ước với Eurasia, hắn đòi tự do ngôn luận, tự do
báo
chí, tự do hội họp,
tư do tư tưởng, hắn điên cuồng gào lên
rằng
cách mạng đã bị phản bội -
tất cả những bài phát biểu liến thoắng,
dài
dòng của hắn giống như nhại
theo cách nói của các diễn giả của
Đảng, hơn nữa
còn chứa nhiều từ ngữ
của Ngômo, thậm chí nhiều hơn số từ các
đảng
viên thường có thể sử dụng
hàng ngày. Để không ai nghi ngờ
ý định thực
sự đằng sau những lời dối
trá tràng giang đại hải của Goldstein, bao giờ
trên
màn ảnh phía sau
đầu hắn cũng là những đoàn quân Eurasia
đang nhịp
bước, những hàng quân
Á châu đằng đằng sát khí,
nét mặt
không một chút biểu cảm nào
liên tục
diễu hành từ trong ra rồi biến mất và được thay
thế bằng
những đoàn
khác trông cũng hệt như thế. Tiếng giầy đinh
lính
tráng nện lộp cộp,
đều đều làm nền cho giọng nói be be
thé thé
của Goldstein.
Hận Thù kéo dài chưa được ba mươi
giây thì một nửa gian phòng
đã
không kìm được những tiếng thét căm
hờn. Chỉ nhìn thấy hay nghĩ đến
Golstein là người ta đã căm ghét
và hoảng sợ rồi, đằng này lại phải
nhìn mãi cái khuôn mặt tự
mãn, dài như mặt cừu và
đoàn quân Eurasia
hùng mạnh phía sau nữa, ai mà chịu
đựng nổi. Hắn là đối tượng căm thù
thường trực, hơn cả Eurasia và Eastasia vì khi
Oceania gây chiến với
một trong hai siêu cường thì bao giờ cũng
hòa hoãn với siêu cường kia.
Nhưng điều kì lạ là mặc dù mọi người
đều căm thù, đều khinh bỉ
Goldstein, lí thuyết của hắn bị đem ra phê
phán, chế giễu ở ga tàu,
trên màn ảnh, trong sách báo
hàng ngàn lần mỗi ngày, có
vẻ như ảnh
hưởng của hắn không hề giảm tí nào.
Lúc nào cũng có những kẻ ngốc
nghếch sẵn sàng để cho hắn dụ dỗ. Ngày
nào cũng có những tên gián
điệp,
phá hoại hoạt động dưới trướng của hắn bị Cảnh
Sát Tư Tưởng tóm được.
Hắn chỉ huy một đội quân bí mật đông đảo
và một mạng lưới gián điệp
ngầm có mục đích lật đổ chế độ. Người ta cho rằng
tổ chức của hắn có
tên là Huynh Đệ. Người ta còn đồn thổi
về một cuốn sách, tuyển tập các
quan điểm phản động mà tác giả chính
là Goldstein đang được lưu hành bí
mật nữa. Cuốn sách này không
có tựa đề. Trong những câu chuyện phiếm,
người ta gọi nó đơn giản là
cuốn
sách. Nhưng những chuyện như
vậy người ta chỉ được nghe qua những lời đồn rất mù mờ. Đảng
viên
thường tránh nhắc đến Huynh Đệ cũng như
cuốn
sách nếu hoàn cảnh cho phép
họ làm thế.
Đến phút thứ hai thì lòng căm
thù đã
trở thành điên loạn. Người ta
nhảy chồm chồm và hò hét đến lạc giọng
hòng
át được tiếng the thé như
xoáy vào não của Goldstein. Người
đàn
bà nhỏ bé tóc hung ửng lên
như
tôm luộc, miệng há hốc như cá mắc cạn.
Ngay cả mặt
O'Brien cũng ửng
lên. Anh ta ngồi thật thẳng, ngực nhồi lên, nhịp
xuống như
sóng đánh.
Cô gái tóc đen phía sau
Winston gào
lên: "Đồ khốn nạn! Khốn nạn! Khốn
nạn!", rồi bất thình lình cầm lấy cuốn tự điển
Ngômo khá dày và
ném
thằng vào màn vô tuyến. Cuốn
sách đập
vào mũi Goldstein và bay ra xa;
nhưng giọng nói thì vẫn tiếp tục. Trong một
phút
tỉnh táo Winston bỗng
phát hiện ra rằng mình cũng đang gào
lên như
mọi người, còn gót chân
thì đang dậm kịch liệt lên thanh ngang của
chân ghế.
Điều kinh khủng
nhất trong Hai Phút Hận Thù không phải
là
việc hành động như mọi người
mà chính là việc không thể
không
hành động. Chỉ cần khoảng ba mươi giây
là việc giả đò đã không
còn cần thiết
nữa. Cơn phấn khích của nỗi sợ
hãi và lòng thù hận, ước
muốn sát
sinh và tra khảo, ước muốn được đập
vỡ mặt bằng một cái búa tạ giống như luồng điện
truyền
khắp phòng,
không ai còn kiểm soát được
hành vi của
mình, tất cả cùng nhăn nhó,
kêu
gào như một lũ điên. Cơn bộc phát
này thực
ra là không có chủ đích,
có
thể được chuyển từ đối tượng này sang đối tượng
khác
giống như ánh lửa
của cái đèn xì. Có
lúc Winston
hoàn toàn không thù
ghét Goldstein,
mà
ngược lại, anh căm ghét Anh Cả, căm ghét Đảng,
căm
ghét Cảnh Sát Tư
Tưởng; những lúc như thế anh bỗng cảm thấy thương hại con
người
dị giáo
cô đơn, bị lăng nhục trên màn ảnh, người
bảo vệ sự
thật và sự tỉnh táo
duy nhất trong cái thế giới giả dối này. Thế
mà
ngay giây phút sau anh
đã trở lại với mọi người và lại thấy những điều
người ta
nói về
Goldstein là đúng. Khi đó
lòng khinh bỉ
bí mật Anh Cả lại biến thành
sùng kính và Anh Cả bỗng hiện
lên cao hơn
tất cả, thành một người bất
khả chiến bại, người bảo vệ kiên cường, hiên ngang
như ngọn
núi đá ngăn
chặn đà tiến của bọn mọi Á châu,
còn
tên Goldstein, dù cô đơn, bất lực,
chưa biết còn sống hay không, lại giống như một
tên
phù thủy ác độc,
chỉ dùng giọng nói cũng đủ tiêu diệt cả
nền văn
minh.
Đôi khi chỉ cần cố gắng là có thể hướng
lòng căm thù vào bất kì đối
tượng nào cũng được. Bất thình lình,
Winston vận hết sức lực, giống như
người ta cố nhấc đầu ra khỏi gối giữa một cơn ác mộng
và hướng lòng thù
hận từ khuôn mặt trên màn ảnh
vào cô gái tóc đen ngồi
phía sau. Những
hình ảnh sống động tuyệt vời lướt qua tâm
trí anh. Đấy là cảnh anh đang
đánh cô ta đến chết bằng dùi cui. Đấy
là cảnh anh trói cô ta, trần
truồng, vào cột gỗ rồi lấy tên bắn đầy người, như
trước đây người ta
từng bắn vào thánh Sebastian vậy. Đấy
là cảnh anh đang cưỡng hiếp và
khi đạt đến tột đỉnh khoái cảm thì cắt cổ
cô ta. Nhưng lúc này anh nhận
thức rõ hơn trước
vì sao anh
lại căm thù cô ta. Anh căm thù
cô
vì cô trẻ, đẹp nhưng thiếu dục tình;
anh căm thù cô vì muốn ngủ với
cô
nhưng không thể được; anh căm thù cô
vì xung quanh vòng eo mềm mại ngọt
ngào của cô, cái vòng eo như
mời gọi người ta ôm ấp, lại là chiếc thắt
lưng màu đỏ đáng ghét, dấu hiệu của sự
trinh trắng đầy khiêu khích.
Lòng Thù Hận đạt đến đỉnh điểm. Giọng Goldstein
trở
nên giống hệt
tiếng cừu và khuôn mặt cũng biến thành
mặt cừu. Rồi
khuôn mặt cừu đó
tan thành hình một tên lính
Eurasia đang
tiến bước, to lớn và dữ dằn,
khẩu súng máy trong tay nổ liên hồi
kì trận;
có vẻ như hắn sắp nhảy ra
khỏi màn ảnh, một số người ngồi ở những hàng ghế
trên vội ngả người ra
sau. Nhưng ngay lúc đó mọi người cùng
thở
phào nhẹ nhõm vì hình
tên
lính đáng ghét đã tan biến
và thay
vào đó là khuôn mặt Anh Cả,
tóc đen,
chòm râu đen, đầy sức sống và
bình thản một
cách bí hiểm, khuôn mặt to
choán hết cả màn hình. Không
ai nghe
rõ Anh Cả nói gì. Đấy chỉ đơn
thuần là mấy lời động viên, giống như những lời
mà
các lãnh tụ thốt lên
giữa trận tiền, dù không nghe rõ, nhưng
vẫn tạo
được lòng tin vì đã có
tiếng nói. Khuôn mặt Anh Cả mờ đi và
thay
vào đó là ba khẩu hiệu của
Đảng được viết bằng chữ in hoa:
CHIẾN TRANH LÀ
HÒA BÌNH
TỰ DO LÀ NÔ LỆ
NGU DỐT LÀ SỨC MẠNH
Nhưng hình ảnh Anh Cả dường như còn đọng lại
trên màn hình thêm
vài
giây nữa nên hình ảnh mà
nó để lại trên tròng mắt người ta sống
động
đến nỗi không thể nhòe ngay lập tức được. Người
đàn bà bé nhỏ tóc hung
ngả hẳn vào lưng ghế phía trước. Bằng một giọng
thì thầm, run run, nghe
như: “Lạy chúa tôi!”,
bà ta vừa nói vừa vươn tay về phía
màn ảnh. Sau
đó bà ta lấy tay hai che mặt. Chắc là
bà ta cầu kinh.
Lúc đó cả phòng họp cùng
đồng thanh tụng một cách chậm rãi, nhịp
nhàng, bằng giọng trầm: “B-B!...B-B...”
- nhiều lần liên tục, thật
chậm, với khoảng lặng dài giữa chữ B thứ nhất và
chữ B thứ hai, giọng
tụng nặng nề, rì rầm, có vẻ hoang dại, người nghe
cảm thấy như âm thanh
được truyền tới trên nền tiếng dậm của những gót
chân trần và tiếng
trống cái giục giã. Chuyện này
kéo dài chừng nửa phút. Cảnh
này thường
xảy ra mỗi khi tình cảm đạt đến cực điểm. Đấy một phần
là bài ca sự anh
minh và tôn kính của Anh Cả, nhưng chủ
yếu là tự thôi miên, người ta
dìm lí trí vào trong tiếng
tụng nhịp nhàng. Winston cảm thấy bụng bị
lạnh. Anh không thể không hòa nhập
vào cơn mê sảng chung với mọi người
khi tham gia Hai Phút Hận Thù, nhưng giọng tụng
“B-B...B-B..” man rợ
lúc nào cũng làm anh hoảng sợ. Tất
nhiên anh cũng tụng như mọi người,
không thể nào khác được. Che giấu
tình cảm, làm chủ nét mặt,
hành động
giống như những người khác - tất cả đã
thành bản năng. Nhưng có một
lúc, kéo dài chừng hai giây,
ánh mắt đã phản bội lại chính anh.
Đúng
lúc đó đã xảy ra một sự kiện quan
trọng - nếu qủa thật nó đã xảy ra.
Bất thình lình anh bắt gặp ánh mắt của
O’Brien. O’Brien đang đứng.
Anh ta đã tháo kính ra và
đang đặt lại nó lên mũi theo thói quen.
Chỉ
trong khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ một tích tắc khi
ánh mắt hai người gặp
nhau, Winston bỗng hiểu, vâng, đúng là
hiểu
rằng O’Brien cũng
đang nghĩ giống hệt như anh! Tín hiệu không thể
nào nhầm lẫn được.
Giống như trí não họ đã mở
và ý nghĩ đang truyền từ người nọ sang người
kia thông qua cặp mắt vậy. “Tôi đồng
ý với anh”- dường như O’Brien
nói
như thế - “Tôi hiểu rõ tình
cảm của anh. Tôi biết rõ sự khinh bỉ,
lòng
căm thù, sự phẫn nộ của anh. Nhưng đừng lo, tôi
ủng hộ anh”. Nhưng tia
sáng trí tuệ đã vụt tắt và
nét mặt O’Brien lại trở nên vô
cảm như tất
cả mọi người.
Thế là hết và anh không chắc
là chuyện đó đã từng xảy ra. Những
chuyện đại loại như vậy không bao giờ có đoạn tiếp
theo. Chỉ còn lại
một điều: chúng nâng đỡ niềm tin, hay
là niềm hi vọng rằng anh không
phải là kẻ thù duy nhất của Đảng. Có
thể tin đồn về rất nhiều vụ âm mưu
ngầm là đúng – có thể
là tổ chức Huynh Đệ quả thật đang tồn tại! Không
thể có chuyện nhiều vụ bắt bớ, nhiều vụ thú nhận,
nhiều vụ hành quyết
như thế mà Huynh Đệ lại chỉ là huyền thọai được.
Có ngày anh tin thế,
có ngày lại không. Không
có bằng chứng; chỉ là những ánh mắt
thoáng
qua, những ánh mắt có thể nói tất cả
hoặc chẳng nói điều gì; chỉ là
những câu chuyện ngắt quãng nghe lỏm được; chỉ
là những chữ đã bị xoá
một phần trên tường phòng vệ sinh; và
một lần anh thấy hai người gặp
nhau, tay họ có những động tác giống như
tín hiệu nhận dạng. Dĩ nhiên
chỉ là phỏng đoán, có thể đấy chỉ
là sản phẩm của trí tưởng tượng. Anh
bước vào ngăn của mình, không hề
nhìn lại O’Brien lần nào. Anh
hoàn
toàn không nghĩ đến chuyện tiếp tục mối
liên hệ thoáng qua vừa rồi.
Ngay cả nếu anh biết cách tiếp xúc thì
việc đó cũng cực kì nguy hiểm.
Trong một giây, mà cũng có thể
là hai giây, họ đã kịp trao đổi những
ánh mắt khả nghi, tất cả chỉ có thế mà
thôi. Ngay cả đấy là một sự kiện
đáng nhớ đối với một người phải sống trong cô đơn
Winston ngẩng đầu và ngồi thẳng lại. Anh ợ. Rượu Gin đang
sôi lên trong dạ dày.
Anh lại nhìn chằm chằm vào tờ giấy. Anh
phát hiện ra rằng trong khi
suy nghĩ một cách bất lực như thế thì tay vẫn
viết, hoàn toàn tự động.
Nhưng đây không phải là những chữ xấu
xí, run rẩy như lúc đầu. Ngòi
bút
khoan khoái trượt trên mặt giấy nhẵn
bóng, tạo nên những chữ in to, rõ
ràng:
ĐẢ ĐẢO ANH CẢ
ĐẢ ĐẢO ANH CẢ
ĐẢ ĐẢO ANH CẢ
ĐẢ ĐẢO ANH CẢ
ĐẢ ĐẢO ANH CẢ
và cứ thế suốt nửa trang giấy.
Anh cảm thấy hoảng sợ vô cùng. Thật vô
nghĩa, bởi vì viết những chữ
cụ thể đó cũng không nguy hiểm hơn việc ghi nhật
kí, thế mà anh bỗng
nảy ra ý định xé trang giấy và chấm
dứt luôn toàn bộ công việc.
Nhưng anh không làm bởi vì anh biết
đằng nào thì cũng vậy. Anh có
viết ĐẢ ĐẢO ANH CẢ hay không viết thì cũng thế.
Anh có ghi nhật kí hay
không ghi thì cũng thế. Trước sau gì
thì Cảnh Sát Tư Tưởng cũng tóm
được anh thôi. Anh đã phạm, chắc chắn
đã phạm, dù không động bút
vào
giấy, một tội chính, tội chủ yếu, một tội bao gồm tất cả
các tội lỗi
khác. Tội tư tưởng, tên của nó
là như thế. Không thể che giấu mãi được
tội tư tưởng. Có thế giấu được một thời gian, trong nhiều
năm, nhưng
trước sau gì họ cũng phát hiện ra mà
thôi.
Việc bắt người luôn xảy ra vào ban đêm.
Bất ngờ bị đánh thức, một
bàn tay thô bạo nắm lấy vai, ánh
sáng chiếu thẳng vào mắt, những bộ mặt
nghiêm khắc vây quanh giường. Thường thì
không có toà án, vụ bắt giữ
cũng không được thông báo. Người ta bỗng
nhiên biến mất, thế thôi, mà
bao giờ cũng vào ban đêm. Tên bị
rút khỏi sổ hộ tịch, những việc đã làm
bị xoá sạch, sự kiện là có một người
từng sống bị phủ nhận và sau đó
thì bị vùi lấp. Con người bị xoá bỏ,
bị tiêu diệt, hay như người ta
thường nói:
bị bốc hơi
Có một lúc anh như phát cuồng. Anh
viết vội vàng, nghiêng ngả:
họ sẽ bắn tôi
tôi cóc cần họ sẽ
bắn vào gáy tôi tôi
cóc cần đả đảo anh cả họ bao giờ cũng bắn vào
gáy
tôi tôi cóc cần đả đảo anh cả-
Anh ngả lưng ra thành ghế, thâm tâm cảm
thấy xấu hổ,
tay buông bút. Anh bỗng giật nảy mình.
Có
người gõ cửa.
Đến rồi! Anh ngồi im lặng như một con chuột nhắt, hi vọng rằng
người ta sẽ bỏ đi. Nhưng không, tiếng gõ lại vang
lên. Chậm là chết.
Tim anh đập như trống trận, nhưng nét mặt, có thể
vì đã quen từ lâu,
vẫn giữ được vẻ lạnh lùng vô cảm. Anh đứng dậy
và nặng nề lê bước về
phía cửa chính.
[1]Ngômo
– Ngôn ngữ mới, ngôn ngữ chính
thức của
Oceania – xem thêm phụ lục cuối sách.