AQ CHÍNH TRUYÊN
LỖ TẤN
MỤC LỤC
1. LỜI
TỰA
2. LƯỢC THUẬT NHỮNG CHUYÊN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
3. LƯỢC THUẬT THÊM VỀ NHỮNG CHUYÊN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
4. BI KỊCH TÌNH YÊU
5. VẤN ĐỀ SINH KẾ
6. LÊN VOI XUỐNG CHÓ
7. CÁCH MẠNG
8. KHÔNG CHO LÀM CÁCH MẠNG
9. ĐẠI ĐOÀN VIÊN
1. LỜI TỰA
Tôi có ý viết cho chú
AQ một pho chính truyện đã mấy năm trời nay rồi, nhưng
một đằng tính viết, một đằng lại ngần ngại. Điều đó đủ
chứng tỏ rằng tôi chẳng có tư cách một nhà
"lập ngôn" tí nào. Chả là xưa nay những
ngòi bút bất hủ phải dành để viết về những
nhân vật bất hủ. Thế rồi, nhân vật nhờ văn chương mà
trường thọ, văn chương cũng nhờ nhân vật mà được lưu
truyền. Rút cục, văn chương nhờ nhân vật
hay nhân vật nhờ văn chương mà được lưu truyền, cũng
khó nói cho minh bạch. Ấy thế mà chung qui
tôi lại vẫn cứ nghĩ đến viết truyện cho A Q. Thì ra
tâm trí tôi như có ma quỷ ám ảnh.
Nhưng vừa cầm bút định viết thiên
văn chương "tố chủ" này, tôi đã cảm thấy nhiều điều
khó khăn. Một là cái nhan đề cuốn truyện. Đức
Thánh nói rằng: "Danh bất chính tắc ngôn bất
thuận" (Tên không đúng thì lời
nói không xuôi). Ấy là một điều mình
phải đặc biệt chú ý. Truyện có nhiều loại: liệt
truyện, tự truyện, nội truyện, ngoại truyện, biệt truyện, gia truyện,
tiểu truyện, ..., phiền một nỗi không có một
tên nào hợp cả. Gọi là "liệt truyện" ư? Thì
đây nào có phải là một nhân vật
có tên tuổi bằng vai bằng lứa với những nhân vật tai
to mặt lớn trong "chính sử" ! Gọi là "tự truyện" ư?
Thì tôi nào có phải là A Q?
Còn nói là "nội truyện",
thì A Q quyết không phải là thần tiên. Hay
là dùng chữ "biệt truyện" vậy? Khốn nỗi ông Đại
Tổng thống, ngài chưa hề hạ dụ cho quốc sử quán
chép "bản truyện" của A Q bao giờ. Vẫn biết rằng mặc
dù trong bộ chính sử nước Anh không hề chép
liệt truyện các người đánh bạc, mà nhà đại
văn hào Dickens cũng đã viết ra bộ Liệt truyện những
người đánh bạc. Nhưng một nhà văn hào
có thể như thế, chứ bọn mình thì quyết không
xong. Sau nữa, còn hai chữ "gia truyện". Nhưng tôi
không rõ tôi với A Q có phải là
bà con không, mà con cháu y cũng chưa nhờ
tôi viết hộ bao giờ ! Hay gọi là "tiểu truyện"?
Thì A Q cũng chưa hề có một bộ "đại truyện" nào
cả. Nói tóm lại, truyện này cũng có thể cho
là một bộ "bản truyện", nhưng xét ra, văn chương của
tôi nôm na mách qué
lắm, toàn dùng những lời của "anh kéo xe, chị
bán tương", lẽ nào lại dám lạm dụng như thế ! Cực
chẳng đã, đành phải mượn hai chữ "chính
truyện" trong câu đưa đẩy mà mấy nhà viết
tiểu thuyết "không chính quy" vẫn dùng:
"Nhàn thoại hưu đề ngôn quy chính truyện"
(Hãy gác những chuyện rườm rà để kể lại chuyện
chính) mà đặt cho bộ sách cái tên
"chính truyện", mặc dù hai chữ này có
thể lẫn lộn với hai chữ "chính truyền" trong tên bộ
sách có tiếng của cổ nhân là bộ Thư
pháp chính truyền thì cũng mặc !
Hai là, lệ thường phàm viết
truyện, người ta vẫn hay mào đầu bằng mấy chữ "Ông Mỗ, tự
là Mỗ, người xứ nọ, xứ kia ..." thế nhưng tôi lại
không biết A Q họ gì hết ? Có một lần, tưởng như A
Q là họ Triệu ; nhưng đến ngày hôm sau
thì lại không lấy gì làm chắc nữa. Ấy
là hôm cậu con Cụ Cố nhà họ Triệu vừa thi đỗ
tú tài. Hôm ấy, tiếng phèng la bèng !
bèng ! báo tin cho làng nước biết. A Q uống
luôn hai bát rượu tăm rồi khoa chân múa tay
nói rằng: tin ấy cũng làm cho y rất vẻ vang, bởi
vì y vốn là bà con với cụ Triệu; nếu tính
theo đúng thế thứ trong gia phả thì y còn đứng
ngang hàng với ông nội cậu tú kia đấy !
Lúc đó, những người đứng xung quanh nghe cũng có
vẻ kính nể y. Nào ngờ, hôm sau bác
khán làng đã gọi A Q đến nhà Cụ Cố họ
Triệu. Vừa thấy A Q, cụ mặt bừng bừng mắng ngay:
- A Q ! Mày là một thằng khốn nạn
mà mày lại dám nhận là họ hàng với
tao kia à !
A Q đứng câm miệng. Cụ càng nhìn, càng giận, sấn tới mấy bước nữa, nói:
- Mày dám nói láo
như thế à ? Làm sao tao lại họ hàng với thứ
mày được ? Mày là người họ Triệu à ?
A Q vẫn đứng im thin thít, muốn liệu thế
chuồn, nhưng Cụ Cố đã nhảy tới, tát cho một tát
vào mặt.
- Mày là người họ Triệu thế
nào được kia chứ ? Mày mà họ Triệu vào
cái ngữ nào?
A Q không hề biện bác gì về
chỗ y chính là họ Triệu hay không cả, chỉ đưa tay
sờ vào má bên trái rồi cùng
bác khán đi ra. Ra khỏi cửa, bác khán
còn mắng cho một mẻ nữa, đành phải kỉnh cho bác
hai quan tiền rượu. Những người biết chyyện đều cho A Q đến
là vớ vẩn, khi không, chuốc lấy trận đòn oan, chứ
nào đã chắc gì mình là người họ
Triệu ; mà dẫu có quả là người họ Triệu đi nữa
thì trước mặt Cụ Cố, cũng không nên nói
dại như vậy. Thế là từ đấy về sau, không ai nhắc đến
chuyện A Q họ gì nữa. Vì vậy mà tôi
không biết được thực tình A Q họ gì cả.
Ba là, tôi cũng không biết
chữ tên A Q viết như thế nào. Lúc y còn
sống, người ta gọi y là A Quây, đến khi chết rồi
thì chả hề ai nhắc đến tên ấy nữa, còn nói
gì đến việc chép vào sử sách ! Mà
nếu như có việc chép vào sử sách,
thì
đây là lần đầu tiên đây, cho nên sự
khó khăn này tôi vấp trước ai hết.
Tôi từng có lúc nghĩ kỹ
rằng: A Quây chính là A Quế hoặc là A
Quí đây ! Nếu như A Q có cái biệt hiệu
là Nguyệt đình, hoặc giả y đã ăn sinh nhật
vào khoảng tháng tám, thì nhất định
là A Quế đứt đi rồi. Nhưng y lại chưa hề có biệt
hiệu - mà có nữa cũng không ai biết - , lại cũng
chưa hề gửi thiếp cho ai vào ngày sinh nhật để người ta
gửi đến cho những bài thơ chúc tụng, thành ra viết
A Quế là võ đoán. Lại nếu như y có một
ông anh hoặc ông em tên là A Phú chẳng
hạn, thì nhất định y là A Quí ; nhưng y chỉ trơ
trọi có một mình. Vậy viết A Quí cũng chẳng
có bằng chứng gì. Còn những chữ
lạ khác cùng âm quây thì
tìm không ra. Trước đây, tôi cũng có
hỏi qua cậu Tú con cụ Triệu; nào ngờ một người uyên
bác như cậu ấymà cũng mù tịt. Cậu ta lại kết luận
rằng đó là tại ông Trần Độc Tú đấy!
Ông ta ra tờ Tân thanh niên rồi đề xướng việc đem chữ
Trung quốc mà viết theo lối chữ Tây, thành ra quốc
túy trầm luân, không biết tra khảo vào
đâu nữa. Cuối cùng, tôi đành phải nhớ một
người làng lục hộ hồ sơ án A Q xem sao. Ròng
rã tám tháng trời, người ta mới trả lời cho
tôi rằng : Trong bản án không hề thấy tên
nào đọc na ná là A Quây cả. Không biết
có chắc hay không, hoặc giả người ta không tra
khảo gì cả cũng nên, nhưng tôi không
còn có cách nào khác nữa. Sợ lối
"chú âm phù hiệu" chưa được thông dụng,
tôi đành dùng lối chữ Tây, theo cách
phiên âm của người Anh mà viết thành A
Quây, và viết tắt là A Q vậy. Như thế, tôi
đã nhắm mắt làm theo bọn Tân thanh niên,
trong lòng cũng hết sức áy náy, nhưng cậu
Tú còn bí nữa là tôi đây, biết
làm thế nào?
Bốn là quê quán A Q. Nếu như
y là người họ Triệu thì theo thói quen hay xưng
quận vọng, có thể chiếu theo chỗ chú giải trong cuốn Quận
danh bách gia tính mà nói rằng : y
là người "Thiên thủy, miền lũng tây". Nhưng
đáng tiếc, A Q họ gì chưa rõ lắm, thì
quê quán y ở đâu cũng chưa có thể định được.
Tiếng rằng A Q sinh bình vẫn trú ngụ ở làng
Mùi, nhưng y lại cứ luôn luôn đi ngủ trọ đâu
đâu ấy. Thành thử không thể nói y là
người làng Mùi được. Nếu nói là người
làng Mùi thì trái với phép viết sử.
Một điều an ủi cho tôi là chữ A
thì đúng hết sức, quyết không mắc vào khuyết
điểm vơ quàng vơ xiên, có thể đưa ra tuyên bố
cùng các nhà thông thái được.
Còn như những việc khác, chỉ mong các đồ đệ của
ông Hồ Thích Chi là những người "sính lịch
sử, sính khảo cứu" sau này có tìm ra manh
mối gì khác chăng? Nhưng lúc đó, e cuốn A Q
chính truyện của tôi đã mất tích từ bao giờ
rồi ...
Trên đây cũng cho đi là một bài tựa.
2. LƯỢC THUẬT NHỮNG CHUYÊN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
A Q không những tên, họ, quê
quán đều mập mờ, cho đến "hành trạng" trước kia ra sao
cũng không rõ ràng nốt. Số là người
làng Mùi đối với A Q xưa nay thì cần y làm
công cho, hoặc chỉ đem y ra làm trò cười mà
thôi, chứ không bao giờ có ai chú ý
đến "hành trạng" của y cả. Mà chính y tự
mình cũng chưa hề bao giờ nói tới chuyện đó hết.
Chỉ có những lúc cãi lộn với ai thì họa
hoằn y mới trừng ngược mắt lên mà tuyên bố :
- Nhà tao xưa kia có bề có thế bằng mấy mày kia ! Thứ mày thấm vào đâu !
A Q không hề có nhà cửa. Y
trọ ngay trong đền Thổ Cốc làng Mùi. Y cũng không
có nghề nghiệp nhất định, chỉ đi làm thuê
làm mướn cho người ta, ai thuê gặt lúa thì
gặt lúa, thuê giã gạo thì giã gạo,
thuê chống thuyền thì chống thuyền. Ngộ những lúc
công việc kéo dài thì y ở lại trong
nhà chủ tạm thời hôm đó, xong công việc lại
đi. Cho nên, người ta có công việc bận bịu lắm
thì còn nhớ đến A Q, nhưng nhớ là nhớ công
ăn việc làm, chứ nào phải nhớ gì đến "hành
trạng" ! Rồi đến lúc công việc rỗi thì luôn
cả A Q người ta cũng chả nhớ nữa, còn nói gì đến
"hành trạng" !
Ấy thế mà có một lần, một
ông lão nào đã tâng bốc y một
câu như sau : "A Q được việc thật !" Lúc đó A Q
đang đánh trần đứng trước lão, người gầy gò
và bộ uể oải ; người ngoài chả ai hiểu lão kia
nói thật hay chế giễu, nhưng A Q rất lấy làm đắc ý.
A Q lại có tính tự cao. Cả bấy
nhiêu mặt dân trong làng Mùi, y tuyệt
nhiên không đếm xỉa đến ai cả. Cho đến hai cậu đồ trong
làng cũng vậy, y vẫn xem thường hết sức. Phú cậu đồ giả,
ngày sau có thể thành thầy tú giả
dã. Cụ Cố nhà họ Triệu và Cụ Cố nhà
họ Tiền là hai người mà trong làng ai ai
cũng kính trọng, bởi vì hai cụ gia tư đã
giàu có, lại hai cậu con là hai cậu đồ ; thế
mà chỉ một mình A Q là không ra vẻ
sùng bái lắm. Y nghĩ bụng : "Con tớ ngày sau lại
không làm nên, to bằng năm bằng mười lũ ấy à
!". Hơn nữa, A Q lại có thể lên mặt với cả làng
Mùi ở chỗ y đã lên huyện mấy bận, mặc dù y
có trọng gì lũ phố phường. Thì chẳng hạn như
cái ghế dài ba thước, rộng ba tấc, ở làng
Mùi gọi là cái "ghế dài", A Q cũng gọi
là "ghế dài", thế mà trên huyện họ lại gọi
là "tràng kỷ" !
Y nghĩ bụng : "Gọi như thế là sai !
Là đáng cười !" ở làng Mùi, rán
cá, người ta bao giờ cũng cho thêm một vài
lá hành dài bằng ba đốt tay, thế mà
trên huyện, họ lại cho nhánh hành thái thỏ
vào ! A
Q nghĩ bụng : "Thế là sai, là
đáng cười!" Nhưng người làng Mùi là những
người nhà quê, chưa hề đi đâu cả, lại chẳng
đáng cười hơn ai hết hay sao ? Một đời chúng nó
chưa hề biết trên huyện người ta
rán cá như thế nào kia mà !
A Q là người "trước kia có bề
có thế", kiến thức rộng, lại "được việc", kể ra cũng đã
có thể gọi là người "hoàn toàn" lắm rồi.
Chỉ đáng tiếc là trong người y còn có một
tí khuyết điểm. Bực bội nhất là ngay trên đầu
có một đám sẹo to tướng chẳng biết từ bao giờ. Mặc
dù đám sẹo đó cũng là vật sở hữu của y,
nhưng xem trong ý tứ y thì hình như y cũng chẳng
cho là quý báu gì, bởi vì y
kiêng tuyệt không dùng đến tiếng "sẹo" và tất
cả những tiếng âm gần giống âm "sẹo". Về sau cứ mở rộng
phạm vi dần, tiếng "sáng", tiếng "rạng" cũng kiêng, rồi
tiếng "đèn", tiếng "đuốc" cũng kiêng tuốt. Chẳng cứ người
nào, bất kỳ vô tình hay hữu ý mà phạm
phải huý là A Q nổi giận, cái đám sẹo đỏ
ửng lên, y nhìn để đánh giá đối thủ rồi kẻ
ít mồm ít miệng là y chửi, kẻ sức yếu là y
đánh. Nhưng chẳng biết thế quái nào, A Q thường
vẫn thua nhiều hơn là được.
Do đó y thay đổi dần dần chính
sách, về sau chỉ lườm kẻ thù bằng một cặp mắt giận dữ nữa
mà thôi. Nào ngờ, sau lúc A Q thi
hành cái chính sách "lườm nguýt"
đó thì bọn vô công rồi nghề ở làng
Mùi lại càng thích chọc ghẹo y hơn. Hễ thấy mặt A
Q đâu là y như chúng nó giả vờ làm bộ
ngạc nhiên nói :
- Ơ kìa ! Sáng quang lên rồi kia kìa !
A Q lại nổi giận, lại lườm bằng một cặp mắt rất dữ tợn. Nhưng chúng nó vẫn không sợ, cứ nói :
- À té ra có ngọn đèn bảo hiểm kia kìa !
Không có cách gì đối phó, A Q đành nghĩ ra một câu để trả thù :
- Thứ chúng mày không xứng ...
Lúc đó, y lại có cảm tưởng
rằng cái sẹo trên đầu y không phải là một
cái sẹo tầm thường mà là một cái sẹo vinh
diệu, danh giá nữa kia. Nhưng như trên kia đã
nói, A Q là người kiến thức rộng, y biết ngay rằng nếu y
nói nữa nhất định sẽ phạm húy, nên y không
nói hết câu.
Thế mà lắm đứa vẫn chưa chịu thôi,
cứ ghẹo y, thành ra cuối cùng lại đánh nhau. Thực
tế thì A Q thua, người ta nắm lấy cái đuôi sam
vàng hoe của y dúi đầu vào tường thình
thình bốn năm cái liền rồi mới hả dạ bỏ đi. Còn A
Q thì đứng ngẩn người ra một lúc, nghĩ bụng :
- Nó đánh mình thì khác gì
nó đánh bố nó.Thật thời buổi này hết chỗ nói !
Rồi cũng hớn hở ra về vẻ đắc thắng.
Cái điều A Q vừa nghĩ trong bụng, về sau
y nói toạc ra. Vì vậy, những kẻ vẫn hay chọc ghẹo y đều
biết rõ cái thủ đoạn đắc thắng tưởng tượng đó của
y. Cho nên, từ đó hễ đứa nào tóm lấy
cái đuôi sam vàng hoa của y, nó cũng bảo :
- A Q này ! Đây không phải
là con đánh bố đâu nhé ! Đây là
người đánh con vật, nghe chưa ? Hãy nói đi
nào : người đánh con vật !
A Q hai tay cố giữ lấy cái đuôi sam, nghếch đầu lên nói :
- Đánh con sâu ! Được chưa ! Tớ là sâu ! Chưa thả ra à !
Tuy A Q đã nhận là sâu rồi
mà nó vẫn chưa chịu thả. Nó còn tóm
lấy đầu y dúi luôn năm sáu cái thình
thình nữa vào chỗ nào gần đó rồi mới hớn hở
bỏ đi, yên trí rằng sau trận này y có thể
xấu hổ mà chết đi được ! Nhưng chưa đầy mươi giây đồng hồ
sau, A Q đã lại hớn hở ra về có vẻ đắc thắng. Y nhận thấy
y là người giỏi nhịn nhục bậc nhất, và ngoài việc
"nhịn nhục" ra, thì về mọi phương diện, y vẫn là người
"bậc nhất". Trạng nguyên cũng chỉ là người "bậc nhất"
mà thôi ! ”Thứ mày kể vào đâu" !
Sau lúc đã dùng bấy
nhiêu phương pháp thần diệu ra đối phó với kẻ
thù, A Q liền khoan khoái đi tới quán rượu, nốc
luôn mấy chén, đùa cợt với anh này,
cãi lộn với anh kia, lại "đắc thắng" rồi mới hớn hở bỏ về đền
Thổ Cốc, ngả ra làm một giấc đến sáng.
Giá phỏng trong túi sẵn tiền
thì A Q đi đánh bạc. Giữa một đám người xúm
nhau ngồi xổm, A Q mặt đầm đìa những mồ hôi là mồ
hôi chen ngay vào, tiếng nói giòn hơn ai hết.
- Này, cửa Thanh lang, bốn quan đấy !
- Mở lớ !
Bác nhà cái vừa mở vừa xướng, mặt cũng đầm đìa những mồ hôi là mồ hôi.
- Thiên môn lớ ... Bao nhiêu
cửa giác cho về lớ ! Cửa nhân và Xuyên đường
để lại lớ! Tiền A Q đâu ? Đưa đây !
- Cửa Xuyên đường một quan này ! Quan năm này !
Giữa bấy nhiêu tiếng xướng ngân nga
đó, tiền của A Q cứ thế dần dần luồn vào túi một
bọn người khác, mặt cũng như mặt y, cũng đầm đìa những mồ
hôi là mồ hôi. Cuối cùng, A Q đành
tháo ra ngoài vòng, đứng sau lưng bọn con bạc
mà nhìn vào và hồi hộp thay cho kẻ
khác, cho đến lúc tan sòng mới ngậm ngùi
trở vào đền Thổ Cốc, để hôm sau sẽ lại vác cặp mắt
sưng húp đi làm thuê.
Kể ra "mất ngựa biết đâu không phải
là một điều may cho ông già cửa ải". Đã
có lần, A Q bất hạnh được luôn một canh bạc, nhưng lần ấy
cơ hồ lại như là thất bại.
Đêm hôm ấy, làng Mùi
rước thần. Theo lệ thường, làng có tổ chức một đám
hát. Bên rạp hát, cũng theo lệ thường, có
mấy sòng bạc. Đối với A Q, tiếng trống, tiếng phèng la
bên rạp như phảng phất ở đâu ngoài mười dặm đường xa
dội lại. Chỉ có tiếng xướng của nhà cái là
y nghe rành mạch. Y được luôn mấy hội. Tiền đồng
thành bạc hào, bạc hào thành bạc đồng, bạc
đồng chất dần dần thành một đống ; A Q đắc ý, mặt
mày nở hẳn lên.
- Này ! Thiên môn hai đồng này !
A Q không biết rõ ai đánh
nhau với ai và vì cớ gì, chỉ thấy tiếng mắng chửi,
tiếng đấm đá cứ ào ào loạn xạ cả lên,
choáng cả đầu óc một hồi khá lâu. Lúc
y ngồi dậy được thì lũ con bạc đã biến đâu mất, cả
bọn người xung quanh hồi nãy cũng không thấy một ai nữa !
A Q cảm thấy có mấy chỗ đau ran lên như vừa bị mấy quả
đấm, mấy cú đá vào người. Trước mặt y, một bọn
đứng nhìn ra vẻ ngạc nhiên. A Q bàng hoàng
chạy về đền Thổ Cốc, rồi đến lúc định được thần hồn thì
mới sực nhớ ra rằng đống tiền củamình cũng bay đâu mất
rồi. Trong ngày hội, bọn phường bạc đều là người tứ
chiếng, biết dò đâu cho ra manh mối ?
Rõ ràng một đống bạc đồng trắng
xóa lên đó, mà lại là của
mình, thế mà bây giờ biến đâu mất ! Cứ cho
là "con nó cướp của bố đi" và tự mắng mình
là "đồ con sâu" cũng vẫn không khuây được. Lần
ấy, A Q mới hơi cảm thấy nỗi đau khổ của một cuộc bại trận thật
tình.
Nhưng chẳng mấy chốc là A Q lại đã
chuyển bại thành thắng. Y sẽ dang cánh tay phải
lên, rán hết sức đánh vào mặt y luôn
hai bạt tai, đau ran lên. Đánh xong, y hình như
đã hả dạ, tựa hồ người đánh là mình
là người bị đánh bại lại là một "mình"
nào khác ... Rồi một lát, y có cảm tưởng
rằng y vừa mới đánh một đứa nào ấy, mặc dù
còn đau nhức cả mặt mũi. Y hả lòng hả dạ ngả lưng xuống
giường.
Thế là ngủ thẳng.
3. LƯỢC THUẬT THÊM VỀ NHỮNG CHUYÊN ĐẮC THẮNG CỦA AQ
Tiếng rằng AQ bao giờ cũng "đắc thắng", nhưng
thật ra mãi đến ngày được Cụ Cố nhà họ Triệu
tát cho mấy tát tai vào mặt thì y mới nổi
tiếng hẳn. Đưa hai quan tiền rượu kỉnh bác khán xong
xuôi rồi, AQ uất ức về nhà, ngả lưng xuống giường, nghĩ
bụng: "Thời buổi này, hết chỗ nói ! Con đánh bố !"
Nhưng y lại sực nghĩ ra rằng: Cụ Cố nhà họ Triệu oai vệ biết bao
nhiêu mà mình cũng xem như là bà con
mình, cho nên y lại dần dần tỏ vẻ đắc ý. Rồi y đứng
dậy, hát bài "Gái góa thăm mồ" và đi
tới quán rượu. Trong lúc đó, y có cảm tưởng
là Cụ Cố nhà họ Triệu vẫn là nhân vật oai vệ
hơn ai hết.
Nói nghe ra có vẻ lạnh
lùng, nhưng từ hôm AQ bị đánh, quả nhiên
người làng đối với y xem chừng kiêng nể hơn trước nhiều.
Thấy vậy, AQ nghĩ bụng: "Hẳn có lẽ bởi vì mình
là bực bố Cụ Cố nhà họ Triệu !" Thật ra, nào
có phải thế. Theo lệ thường, ở làng Mùi nếu
tên Kèo đánh tên Cột, anh Ba đánh anh
Năm thì xưa nay chẳng ai để ý đến cả. Nhưng nếu có
dính dáng đến một nhân vật "xù" như
là Cụ Cố nhà họ Triệu chẳng hạn thì mới có
tiếng đồn. Lúc đã có tiếng đồn thì
không những
người đánh đã có danh có giá
mà luôn cả người bị đánh cũng nhờ đó
mà lẫy lừng. Còn như nói đến sự phải trái
thì nhất định là lỗi về AQ rồi, không cần phải
bàn nữa. Tại sao vậy? Thì cả lẽ Cụ Cố nhà họ Triệu
lại có thể có lỗi được hay sao? Nhưng, nếu AQ có
lỗi, thì sao người ta lại có vẻ kiêng nể y hơn
trước? Nào ai biết đâu đấy ! Kẻ xuyên tạc thì
cho rằng hoặc giả là vì AQ nói y là
bà con với Cụ Cố họ Triệu, tuy bị đánh đấy, song người ta
vẫn e rằng AQ nói cũng có phần nào đúng,
thà kiêng nể y chút đỉnh có lẽ cũng êm
hơn. Nếu không phải như thế thì có thể nói
là AQ cũng như con bò thái lao tế thánh,
tuy cũng chỉ là một con vật, chẳng khác con dê, con
lợn thường, nhưng đã được Đức Thánh ngài
nhúng đũa vào rồi thì bao nhiêu tiên
nho đố bác nào dám động vào nữa !
Từ đó AQ đắc ý được mấy năm ròng.
Rồi, đến mùa xuân năm nọ, AQ say
mềm bước đi trên con đường làng, bỗng thấy lão
Vương Râu xồm đang mình trần trùi trụi, ngồi bắt
rận bên một góc tường dưới bóng mặt trời. Bất
giác, AQ cũng nghe ngứa ran cả mình lên. Cái
lão Vương Râu xồm này, râu vừa xồm lại vừa
lắm sẹo, trong làng vẫn quen gọi là lão Vương Sẹo
Xồm, nhưng AQ bỏ bớt chữ "sẹo" đi. Và AQ khinh lão ra mặt.
Cứ trong ý tứ AQ thì sẹo chẳng lấy
gì làm lạ cả, chỉ bộ râu quai nón kia mới
là kỳ quặc, mới là chướng mắt. Thế rồi AQ sẽ ngồi xuống
cạnh Vương Râu xồm. Kể ra, nếu là kẻ khác
thì chưa hẳn AQ đã ngồi một cách vô ý
vô tứ như vậy. Nhưng lão râu xồm này
thì sợ cóc gì mà chẳng ngồi ! Nói
trắng ra, AQ chịu ngồi như thế này là vẻ vang cho
lão ta lắm rồi.
AQ cũng cởi mảnh áo cộc đụp rách
ra, và cũng mằn mò, tìm tòi một lúc.
Chẳng biết vì áo mới giặt hay vì AQ lơ đễnh
mà một hồi khá lâu, y chỉ bắt được có ba bốn
con thôi ! Liếc qua bên cạnh thấy lão râu xồm
đã làm luôn một lúc ba, bốn, năm, sáu
con, và cứ con này đến con khác, chét
vào răng, cúp nghe đánh "bụp" lên từng tiếng
một !
AQ lúc đầu còn thất vọng, sau phải
cáu lên. Làm sao cái lão Vương
Râu xồm đáng ghét thế kia mà lại bắt được
nhiều rận như vậy, còn mình thì ít ỏi thế
này, còn gì là thể thống nữa? Y muốn
tìm cho ra một hai chú rõ to, thế mà vẫn
không được ! Tìm đi tìm lại, mãi mới được
một chú choai choai. AQ nét mặt hầm hầm, nhét
vào giữa cặp môi dày, rán hết sức cúp
một cái, thế mà tiếng cúp lại chỉ tẹt một tiếng,
vẫn không kêu to bằng Vương Râu xồm. Vết sẹo
trên đầu AQ đỏ bừng lên. Y vất mẹ áo xuống đất, nhổ
một bãi nước bọt, nói:
- Đồ sâu róm !
- Đồ chó ghẻ, mày mắng ai đấy !
Vương Râu xồm vừa trả lời vừa ngước mắt lên, ra vẻ khinh bỉ.
Gần đây, AQ tiếng được người ta
kiêng nể và cũng hay lên mặt, nhưng gặp tụi lưu manh
trong làng thường cà khịa với y thì y vẫn e sợ.
Chỉ có lần này là tinh thần thượng võ của y
lại hăng lên ghê lắm ! Cái thằng râu quai
nón xồm xoàm cả mặt kia mà cũng dám
nói lếu nói láo à ?
- Thằng nào nghe là chửi thằng ấy !
AQ đứng phắt dậy, hai tay chống nạnh.
- Thằng này lại ngứa xương ống rồi hẳn?
Vương Râu xồm vừa nói vừa
khoác áo lên mình, cũng đứng dậy. AQ tưởng
nó định chuồn, thốc ngay vào, cho một quả đấm. Nào
ngờ quả đấm chưa bén tầm thì Vương Râu xồm
đã tóm lấy AQ giật một cái, AQ loạng choạng
ngã sấp xuống. Tức thì Vương Râu xồm níu lấy
cái đuôi sam, lôi tới bên tường, định chiếu lệ
dúi đầu vào tường ... AQ nghếch đầu lên nói:
- Người quân tử chỉ đấu khẩu, ai đi đấu sức?
Hình như lão Vương Râu xồm
này không "quân tử" cho lắm, nên nó
không đếm xỉa tới câu nói ấy, cứ dúi đầu AQ
vào tường luôn năm cái liền, đoạn rán sức
xô một cái thật mạnh làm cho AQ ngã
té ra đằng kia có đến năm sáu thước, bấy giờ mới
hả dạ, đắc ý bỏ đi.
Trong ký ức của AQ thật là chưa
bao giờ có một chuyện nhục nhã như thế. Số là đối
với Vương Râu xồm quai nón kia, AQ cười nó
thì có, chứ bao giờ nó lại dám cười AQ?
Nói gì đến chuyện đấm đá! Thế mà lần
này ... nó dám thượng cẳng chân hạ cẳng tay,
ai ngờ như thế được ! Chẳng lẽ lại đúng như người ta nói:
vì đức Hoàng đế sắp bỏ khoa thi, không cần lấy
tú tài cử nhân nữa, do đó mà thanh
thế họ Triệu nhà mình từ nay kém oai đi. Có
thế chúng nó mới dám xem thường xem mình
khinh ra mặt.
AQ đứng ngơ ngác chả hiểu thế nào cả.
Đằng xa có người đi tới. Thì
chính là kẻ thù của AQ. Hắn là đứa
mà AQ xưa nay vẫn ghét đứt mắt đi được. ấy là
thằng con cả Cụ Cố nhà họ Tiền. Trước đây, hắn có
lên học trường tây trên tỉnh, rồi không biết
thế nào lại tuốt sang Nhật. Vừa năm sau, hắn về nhà, cặp
dò cứ ngay đơ ra, cái đuôi sam cũng biến đâu
mất. Mẹ hắn khóc bù lu bù loa mấy mươi bận, rồi vợ
hắn cũng nhảy xuống giếng định tự tử ba lần liền. Về sau mụ mẹ hắn đi
đâu cũng nói:
"Cái đuôi sam kia là bị một
bọn côn đồ phục rượu cho say rồi cắt mất đi đấy ! Lẽ ra
cháu nó có thể làm quan to rồi kia ...
Nhưng bây giờ thì đành phải chờ cho tóc
dài trở lại đã rồi mới nói chuyện ấy !". Nhưng AQ
không chịu tin như vậy, cứ gọi cậu cả nhà họ Tiền
là ""thằng Tây giả", là "Hán gian", hễ thấy
mặt là chửi thầm trong bụng.
Điều mà AQ ghét cay ghét
đắng là cái đuôi sam giả của hắn. Đến cái
đuôi sam mà cũng giả nốt thì
còn gì là nhân cách? Thế mà
con vợ hắn không biết đường nhảy xuống giếng một lần thứ tư nữa
cho chết quách đi, thì thứ đàn bà ấy quyết
không phải là hạng người chính đính ! ...
Lão "Tây giả" đi lại gần.
- Thằng trọc ! Đồ con lừa !
Xưa nay AQ thấy hắn, vẫn chỉ chửi thầm trong
bụng. Nhưng lần này vì "chính khí"
mà nổi giận, và vì muốn trả thù, nên
trong lúc vô tình y đã thốt thành
lời. Ai ngờ "thằng trọc" đã hầm hầm bước tới, tay cầm chặt
cái ba-toong sơn vàng mà y vẫn gọi là
cái gậy đại tang. Trong giây lát, y biết ngay
là có lẽ hắn sẽ đánh, cho nên y triển hết
gân, gò cả hai vai lên mà chờ ... Thì
quả nhiên, đốp, đốp ! tựa hồ cái gậy kia đã
giáng vào đầu y rồi !
- Tớ nói thằng kia cơ mà !
AQ chỉ đứa bé đứng bên cạnh, phân bua.
Đốp ! đốp ! đốp !
Đấy lại là việc nhục nhã thứ hai
trong ký ức AQ. Cũng may là ngay sau mấy tiếng đốp ! đốp
! đó thì AQ đã lại tựa hồ cho thế là xong
hẳn đi một chuyện, và y đã cảm thấy trong người nhẹ
nhõm.
Vả lại, "quên" là cái bửu
bối gia truyền, rất thần hiệu của AQ trong những trường hợp này.
AQ chậm rãi đi tới quán rượu, có vẻ đắc ý.
Nhưng trước mặt y, cô tiểu chùa
Tĩnh tu đã ở đâu đằng kia đi lại. Ngày thường, cứ
mỗi lần gặp cô tiểu này là thế nào AQ cũng
chửi một câu, huống hồ hôm nay, sau khi y vừa bị nhục. AQ
sực nhớ điều gì, thế là lại nổi giận. Y nghĩ bụng:
Thì ra vì hôm nay ông bước chân ra cửa
là gặp ngay lấy mày. Thảo nào xúi quẩy như
thế!
AQ bước tới, nhổ một bãi nước bọt đánh toạch một cái:
- Khạc ! Phì !
Cô tiểu cứ cúi đầu đi, không
ngoảnh lại. AQ sấn tới gần cô ta, bỗng giơ tay xoa ngay
vào cái đầu vừa mới cạo, cười gắn lên và
nói:
- Con trọc ! Về nhanh lên, sư cụ chờ kia kìa !
- Ngứa chân ngứa tay à?
Cô tiểu mặt đỏ bừng, vừa nói vừa
rảo bước. Bao nhiêu người trong quán rượu đều cười ồ
lên. Thấy trò chơi của mình có người thưởng
thức, AQ càng cao hứng tợn:
- Sư cụ sờ được, tớ lại không sờ được à?
Rồi AQ véo một cái vào
má cô tiểu. Bao nhiêu người trong quán lại
cười ồ lên một thôi nữa. AQ đắc ý. Muốn cho bấy
nhiêu "khán giả" được hài lòng, y rán
sức véo luôn một cái nữa thật mạnh vào
má cô bé rồi mới buông tay.
Sau khi lập được "chiến công" này,
AQ đã quên cả Vương Râu xồm, quên cả
lão "Tây giả" rồi; và hình như bao
nhiêu nỗi bất bình, bao nhiêu điều "xúi quẩy"
ngày hôm ấy đều đã rửa được sạch sành sanh.
Mà lạ lùng thay, lúc bấy giờ y nghe hình
như người y nhẹ hẳn đi, nhẹ hơn lúc bị mấy ba-toong đánh
đốp ! đốp ! vào đầu nữa. AQ hớn hở tựa hồ như bay bổng lên
tít mãi trên mấy từng mây.
Xa xa đằng kia còn văng vẳng nghe tiếng cô tiểu chửi lồng trong tiếng khóc: "Cha thằng AQ ! Đồ tuyệt tự!"
- Ha ! Ha ! Ha !
AQ cười đắc ý.
- Ha ! Ha ! Ha ! Ha !
Bao nhiêu người trong quán rượu cũng cười, cũng đắc ý gần bằng AQ.
4. BI KỊCH TÌNH YÊU
Có kẻ nói rằng: nhiều người thường
ước ao gặp được đối thủ của mình khỏe như cọp, dữ như cắt,
có thế thắng trận mới thỏa thích. Nhược bằng yếu như cừu,
như gà con, thì dù có thắng cũng vô
ích. Lại còn có những người, lúc thắng rồi,
mắt nhìn thấy kẻ thù của mình hồi trước, bây
giờ đứa chết cũng đã chết rồi, đứa hàng cũng đã
cúi đầu van xin "cắn cơm, cắn cỏ" rồi, thì trên đời
không ai là địch thủ với họ nữa, không ai chống
chọi với họ nữa, không ai là bạn bè, là lứa
tác với họ nữa, chỉ một mình vò võ, chẳng
ai hơn, tự khắc họ cảm thấy lạnh lùng, cô đơn, hiu quạnh,
và cũng cảm thấy nỗi đau đớn của sự thắng trận. Nhưng AQ
của chúng ta thật chưa hề cảm thấy có cái trạng
thái hiu quạnh nói trên. AQ là một người bao
giờ cũng hớn hở tự đắc. Phải chăng đó chính là
cái biểu hiện đủ chứng tỏ rằng: văn minh tinh thần của
Trung Hoa nhà ta quả là bậc nhất trên hoàn
cầu?
Thì các người xem: AQ lòng đang phơi phới kia kìa !
Tuy nhiên, cuộc thắng trận này
có làm cho AQ cảm thấy trong tâm hồn y khang
khác thế nào ấy ! Y nhẹ nhàng rảo bước trên
con đường làng một lúc lâu rồi hớn hở đi về đền Thổ
Cốc. Lẽ ra, theo lệ thường, AQ đã ngả lưng ra kéo
khò khò một giấc rồi ; ai ngờ hôm ấy, y lại
không tài nào nhắm mắt được. Y cảm thấy đầu
ngón tay cái và ngón tay trỏ có
cái gì là lạ: nghe nó cứ nhờn nhờn
khác mọi hôm ! Phải chăng trên gò má
cô tiểu hồi nãy có tí dầu tí mỡ
gì đã dính vào đây? Hay là
chỉ vì sờ vào gò má cô tiểu mà
bây giờ trơn lỳ như thế này ! ...
"Cha thằng AQ, đồ tuyệt tự !"
AQ còn như văng vẳng bên tai bấy
nhiêu tiếng chửi. Y nghĩ bụng : "Phải rồi, đã là
đàn ông thì phải có một người vợ. Tuyệt tự
thì rồi ai cúng cơm cho. Phải có một người vợ. Bất
hiếu hữu tam, vô hậu vi đại." Mà làm
cái kiếp quỷ đói như Nhược Ngao ngày xưa
thì trong đời người còn gì thảm thiết bằng ! Kể ra
ý nghĩ này của AQ thật đúng với kinh truyện
thánh hiền thủa trước hết sức. Chỉ tiếc một điều là từ
nay trở đi, AQ không tài nào kiềm chế nổi
cái "nỗi lòng canh cánh" của y nữa !
AQ mơ màng:
"Đàn bà ! ... Đàn bà ! ..."
"Sư cụ sờ được ! ... Chao ! ... Đàn bà ! ... Đàn bà ! ... Đàn bà !
..."
AQ vẫn mơ màng ...
Chả ai biết tối hôm ấy, AQ mãi đến
mấy giờ mới ngáy; nhưng đại khái là sau lúc
nhận thấy hai đầu ngón tay nhờn ứơt như vậy thì y cảm
thấy tâm hồn nhẹ nhàng, phơi phới hẳn lên.
"Đàn bà!' AQ vẫn cứ mơ màng.
Chỉ chừng ấy, chúng ta cũng đã
biết cái giống đàn bà nó nguy hiểm
là dường nào rồi! Đàn ông nước Trung hoa
nhà mình phần đông vốn có thể thành
ông thánh ông hiền cả. Chỉ tai hại vì một lũ
đàn bà mà thành ra hỏng hết! ... Nhà
Thương xưa kia vì một con Đát Kỷ mà mất nước
nhé ! ... Rồi đến nhà Chu cũng vì một con Bao Tự
mà tan nát cơ đồ nhé ! Đến như nhà Tần ...
tuy sử sách không hề chép phân minh, nhưng
chúng ta cũng cứ cho là bởi vì đàn
bà đi ! ... Vị tất đã sai. Lại còn Đổng
Trác nữa, thì rõ ràng là bị con
Điêu Thuyền hãm hại đứt đi rồi ! ...
AQ vốn là người hiền lành trung
hậu. Chúng ta không biết rõ y có từng được
một vị tôn sư nào dạy lễ nghĩa cho hay không, nhưng
đối với cái đạo "nam nữ hữu biệt" thì y xưa nay vẫn giữ
nghiêm lắm. Một mặt khác, đối với dị đoan, tà
thuyết, như đối với cô tiểu và chú Tây giả
chẳng hạn, thì thật y có cái "chính
khí" không hề dung thứ bao giờ! Học thuyết của y có
thể tóm tắt như sau: phàm là tiểu thì
nhất định có tư tình với sư cụ, và phàm
là đàn bà con gái mà đi ra đường
thì nhất định đi ve trai; người đàn ông đang
trò chuyện cùng người đàn bà đằng kia
thì tất là có tằng tịu gì rồi chứ
chẳng không! Để trừng trị lũ chúngnó, AQ vẫn
luôn luôn lườm chúng nó bằng một cặp mắt dữ
tợn, hoặc cố ý nói to lên mấy câu "thọc gan"
cho chúng nó "chết cả ruột đi được"; còn nếu ở chỗ
hẻo lánh thì y lén ra đằng sau ném cho
một hòn sỏi vào lưng! Thế mà ai ngờ sắp đến tuổi
"nhi lập" rồi, AQ lại bị một cô tiểu ám hại làm cho
tâm hồn cứ phơi phới lên. Xét theo lễ giáo
thì tâm hồn phơi phới lên vì một người
đàn bà thật là điều không nên
có, cho nên đàn bà quả là đáng
ghét! Giá như hôm ấy, cặp má cô tiểu
không có chất gì nhờn nhờn thì AQ đâu
đến nỗi như người bị bùa mê? Hay là giá cặp
má cô ta có một lần vải che hẳn đi thì
có lẽ AQ cũng không phải mê mẩn rồi! Năm sáu
năm về trước, trong một rạp hát chật ních người,
có một lần AQ đã véo vào đùi một mụ
nào, nhưng vì còn có manh quần,
nên không đến nỗi mê mẩn như hôm nay. Đằng
này con tiểu kia lại không biết che đậy đi như thế cho;
điều đó đủ thấy dị đoan thật là khả ố!
AQ vẫn cứ mơ màng: "Đàn bà! ..."
Đối với bọn con gái mà y cho
là "nhất định chỉ đi ve trai", AQ đã nhiều lần để
ý đến chúng nó xem sao. Nhưng chúng
nó tuyệt nhiên chưa hề cười với y bao giờ cả. Và
trong lúc trò chuyện với đàn bà, y
đã cố ý chờ đợi ... thế mà chúng nó
cũng tuyệt nhiên không nói đến chuyện tằng tịu nọ
kia! ... A! Đó cũng là một điều làm cho đàn
bà đáng ghét thật, chúng nó chỉ
toàn là đạo đức giả cả.
Hôm đó, AQ ở nhà Cụ Cố họ
Triệu, giã gạo một ngày trời. Ăn cơm tối xong, y ngồi
hút thuốc dưới nhà bếp. Nếu làm công ở
nhà nào khác thì ăn cơm tối xong là
y đi về nhà. Nhưng ở nhà Cụ Cố, cơm tối lại ăn sớm hơn
các nhà khác. Ngày thường ở nhà
này ăn cơm xong là đi ngủ ngay, lệ không được đỏ
đèn. Chỉ có hai trường hợp đặc biệt: một là
ngày cậu Tú còn chưa thành đạt thì
tối lại, cậu có thể đỏ đèn lên sôi kinh nấu
sử; hai là lúc nào AQ đến làm công
thì cũng được phép đỏ đèn lên
mà giã gạo đêm. Vì cái ngoại lệ
này nên hôm ấy, trước lúc đi giã gạo,
AQ còn ngồi hút thuốc.
Vú Ngò, người ở gái duy
nhất trong nhà Cụ Cố họ Triệu, rửa bát đĩa xong cũng
tréo mảy ngồi trên chiếc ghế dài mà
nói mấy câu chuyện xì xằng với AQ.
- Cụ bà ấy mà, hai hôm nay
không ăn một hột cơm nào đâu nhé! Chả
là cụ ông muốn mua nàng hầu ...
AQ nghĩ bụng: "Đàn bà! ... Con vú Ngò, con mẹ gái góa này nó cũng ..."
- Mà mợ Tú cũng đến tháng tám này thì ở cữ đấy nhé! ...
AQ vẫn mơ màng:
"Đàn bà! ..."
Buông ống điếu xuống, AQ đứng dậy. Vú Ngò còn nói lải nhải:
- Mợ Tú nhà ta ...
Bỗng AQ xông tới quỳ sụp xuống trước mặt mụ:
- Chúng ta cùng nhau ... chúng ta ... nào!
Im phăng phắc trong chốc lát.
"Ối giời ơi là giời ơi!" Mụ vú
ngẩn đi một lúc, bỗng run cầm cập, chạy ra ngoài la to,
mấy tiếng kêu sau cùng của mụ nghe hình như xen lẫn
trong tiếng khóc.
AQ quỳ trước bức tường cũng ngẩn ngơ một
lúc rồi hai tay vơ quàng lấy cái ghế không,
từ từ đứng dậy, tựa hồ cảm thấy có điều gì không
hay. Y thấp thỏm trong bụng, vội vàng nhặt cái tẩu thuốc,
giắt vào thắt lưng, định đi giã gạo thì "đốp" một
tiếng, rồi nghe như tuồng đòn cứ đánh một thôi
vào đầu. Y vội quay lại, đã thấy cậu Tú đứng trước
mặt, tay cầm một cái đòn tre to tướng.
- Đồ làm giặc! Thằng này, mày ...
Cái đòn tre cứ nhắm đầu AQ
mà bổ xuống. AQ đưa hai bàn tay lên ôm lấy
đầu, thành ra đòn tre cứ đánh vào mấy đốt
tay, đau nhói. AQ chạy thẳng ra khỏi nhà bếp, đòn
tre vẫn bổ vào lưng một thôi khá lâu. "Oẳng
pa tàn !" Cậu Tú dùng tiếng quan thoại chửi theo.
AQ chạy vào nhà giã gạo,
đứng một mình, còn thấy ngón tay tê đi,
và còn nhớ ba chữ: "Oẳng pa tàn!"... "Oẳng pa
tàn!". Câu chửi bằng tiếng quan thoại này ở
làng mùi xưa nay chưa hề ai dùng, chỉ có
những người tai mắt hay lui tới cửa quan mới dùng đến, cũng
vì thế mà nghe có vẻ đáng sợ hơn tất cả
những tiếng chửi khác, và do đó đã để lại
trong đầu óc AQ một ấn tượng rất sâu sắc. Vả lại
lúc đó, AQ cũng đã quên bẵng cái
ý nghĩ về "đàn bà" lâu nay vẫn ám ảnh
tâm hồn y. Nhưng sau trận đòn trận chửi đó, AQ cho
câu chuyện như thế cũng gọi là yên đi, và cảm
thấy chẳng có gì đáng lo nghĩ nữa. Y lại cứ đi
giã gạo như thường. Giã được một chốc, y thấy bức, nghỉ
tay, sẽ cởi áo ra. Đang cởi áo thì nghe
ngoài kia có tiếng xôn xao. Bình sình
AQ vẫn thích xem những đám ồn ào. Tức thì y
lần theo tiếng ồn ào chạy ra xe, cứ thế lần mò vào
tận nhà Cụ Cố. Giời nhá nhem nhưng y cũng nhận thấy trong
đám người tấp nập, xôn xao đó, có cả
bà Cụ Cố đã hai ngày trời không có
hột cơm nào trong bụng, cả thím Bảy Trâu nhà
bên cạnh, cả hai bác Triệu Bạch Nhãn, Triệu Tư
Thần, hai người bà con chính tông với nhà Cụ
Cố.
Mợ Tú tay dắt vú Ngò ra khỏi buồng nhà dưới, miệng nói:
- Nào, vú cứ ra ngoài này, chuyện gì mà lẩn vào trong buồng định ...
Thím Bảy Trâu đứng cạnh cũng nói gom:
- Thì ai chả biết u là người chính đính? Không thể như thế mà lại định làm liều!
Vú Ngò chỉ nức nở khóc, miệng lẩm bẩm, chẳng ai nghe rõ ra cái gì cả.
AQ nghĩ: "Hừ vui quá! Con mẹ gái
góa này định giở cái trò gì thế
này?" Rồi chạy đến bên bác Triệu Tư Thần, có
ý dò xem câu chuyện đầu đuôi thế nào.
Bổng Cụ Cố Triệu vùn vụt chạy tới, tay cầm cái đòn
tre to tướng. Thấy đòn tre đó, AQ sực nghĩ ra rằng
câu chuyện này với trận đòn hồi nãy nhất
định có dính dáng với nhau. Quay mình lại y
định chạy trở về gian nhà giã gạo. Bất đồ chiếc
đòn tre đã chắn ngang đường về. Thế là y lại quay
trở lại, đâm đầu chạy thẳng, cố nhiên là lủi ra
phía cửa sau. Không mấy chốc, y đã về đến đền Thổ
Cốc.
Ngồi một hồi, AQ nghe tuồng như da thịt
có vẻ rờn rợn và cảm thấy rét. Số là tuy
đã sang xuân nhưng thời tiết ban đêm vẫn còn
chưa lấy gì làm ấm, ở trần vẫn còn khó
chịu. Sực nghĩ lại cái manh áo cộc còn nằm ở
nhà họ Triệu, AQ muốn đi lấy về, nhưng lại sợ cái
đòn tre của cậu Tú. Giữa lúc ấy, bác
khán làng đã từ ngoài cửa bước vào.
- AQ! Con mẹ mày! Cả đến người ở
nhà cụ Triệu mà mày cũng trêu ghẹo được,
thật là mày làm giặc! Mày báo hại
tao cả đêm hôm qua không nhắm mắt được tí
nào! Con mẹ mày!
Rồi mắng cho một tràng như thế, vân
vân ... AQ cố nhiên không hề cãi lại nửa lời.
Cuối cùng, vì là ban đêm, nên
món tiền đưa bác khán uống rượu cũng phải gấp
đôi lên, những bốn quan.
AQ không có một đồng tiền
nào trong túi đành phải đem cái mũ
lông cừu gán cho bác khán. Y lại còn
phải ký một tờ cam đoan, thừa nhận năm khoản sau:
1. Sáng hôm sau, phải đem một cặp
nến đỏ, thứ nặng một cân, và một bao nhang đến nhà
Cụ Cố tạ tội.
2. Phải chịu hết tiền phí tổn biện lễ trừ "tà thắt cổ" cho nhà họ Triệu.
3. Từ nay trở đi, không được bén mảng đến nhà họ Triệu nữa.
4. Nếu sau này vú Ngò
có việc gì bất trắc thì phải chịu hoàn
toàn trách nhiệm.
5. Không được trở lại nhà Cụ Cố
đòi tiền công giã gạo, và xin lại cái
áo còn bỏ lại hôm trước.
Cố nhiên AQ phải nhận tất. Khốn một nỗi, y
không còn một đồng xu nhỏ. Cũng còn may là
đang mùa xuân nên cái mền bông cũng
không cần cho lắm nữa. Y bèn đem cầm lấy hai chục quan
tiền để thi hành bấy nhiêu khoản trong tờ điều ước. Sau
lúc mình trần trùi trụi phủ phục trước Cụ Cố, AQ
ra về, vẫn còn thừa lại một ít tiền, nhưng y cũng
không nghĩ đến việc chuộc cái mũ lông cừu. Y đem
uống rượu hết. Còn bên nhà Cụ Cố cũng không
thấy nói gì đến việc cúng bái trừ tà
gì cả. Bấy nhiêu hương đèn đều cất đi để khi
nào Cụ Cố bà lên chùa lễ Phật sẽ
dùng. Còn tấm áo rách thì nửa to cắt
đi để đến tháng tám này mợ Tú ở cữ
dùng làm tã lau nước tiểu cho em bé,
và nửa nhỏ, nát quá, thì dùng
đóng vào gót dép của vú Ngò.
5. VẤN ĐỀ SINH KẾ
Lễ bái từ tạ ở nhà họ Triệu xong
xuôi, AQ về đến đền Thổ Cốc thì mặt trời đã lặn. Y
dần dần cảm thấy hình như trên đời có cái
gì là lạ. Nghĩ đi nghĩ lại, y nhận ra rằng: nguyên
nhân chỉ vì y ở trần. Sực nhớ còn một mảnh
áo cộc kép, y liền lấy khoác vào, rồi ngả
lưng xuống cho đến lúc tỉnh giấc, mở mắt ra thì
ánh mặt trời đã chói lọi trên mái
tường phía tây bên kia. Y ngồi dậy, lẩm bẩm:
- Mẹ kiếp!
Thế rồi, cũng như mọi hôm sau khi ngủ dậy,
AQ bước ra, đi rong trên con đường làng. Bây giờ, y
không nghe da thịt buốt như lúc ở trần nữa, nhưng dần dần
y lại cứ cảm thấy trên đời có cái gì
là lạ thật. Tuồng như tất cả bọn đàn bà con
gái làng Mùi từ hôm nay trở đi bỗng dưng đua
nhau mà hổ ngươi. Cứ thấy mặt AQ đâu là
chúng nó xô nhau trốn biệt vào tận trong
cửa. Thậm chí thím Bảy Trâu đã ngót
năm chục tuổi đầu rồi cũng vậy, thím ta cũng học theo người
khác vội vàng lẩn tránh đi. Không những thế,
thím ta còn hối hả gọi đứa con gái của thím
non mười tuổi đầu vào nốt!
AQ lấy làm lạ lùng hết sức. Y tự
hỏi: "Quái! sao cả lũ chúng nó độ này lại
đua nhau học điệu bộ các cô tiểu thư như thế là thế
nào nhỉ? Mấy con đĩ này rõ khéo! ..."
Rồi đến những ngày sau, AQ càng
thấy nhiều sự lạ lùng khác nữa. Một là lão
chủ quán rượu nhất định không bán chịu cho y nữa.
Hai là, lão từ ở đền Thổ Cốc cũng nói lảm nhảm như
muốn ngỏ ý thúc giục y dọn đi chỗ khác. Ba
là, không nhớ rõ bao nhiêu ngày trời
rồi, nhưng đã khá lâu, không hề có
người nào gọi y đi làm vặt nữa! Cửa hàng rượu
không bán chịu thì nhịn đi cũng xong, lão từ
muốn đuổi thì lần lữa còn có thể được, chỉ
có điều không ai gọi đi làm thì chết
đói. Đến thế này thì thật là "mẹ kiếp"!
AQ không tài nào chịu nổi
tình cảnh ấy nữa. Y đành phải liều tìm đến mấy
nhà chủ xưa nay vẫn thuê y làm vặt để dò xem
tình hình, chỉ trừ nhà Cụ Cố họ Triệu ra là
không dám tới. Nhưng tình hình đã đổi
khác. Đến đâu là y như trong nhà đã
thấy một lão đàn ông mặt mũi hết sức khả ố bước ra
xua tay đuổi như đuổi ăn mày:
- Không có! Không có! Đi đi! ...
AQ cũng ngạc nhiên. Y nghĩ bụng: những
nhà này xưa nay vẫn cần mình làm
thuê, thế mà bây giờ bỗng dưng không một ai
có việc gì nữa cả. Nhất định là có điều
gì oái oăm đây chứ chẳng không. Để ý
dò la, y mới vỡ ra rằng: bọn họ có công việc
gì là toàn đi gọi thằng cu Don. Cái thằng
cu D. là một thằng nhãi con, gày gò, ốm
yếu. Theo con mắt AQ thì nó còn thua cả lão
Vương Râu xồm nữa kia! ... Thế mà ai ngờ chính
cái thằng nhãi con này lại đã hớt ngang
bát cơm của y! Bởi vậy, lần này y tức điên
lên hơn lần nào hết. Trong lúc hằm hằm rảo bước, y
bỗng vô tình giơ cánh tay lên, miệng
nói:
Ngã thủ chấp (i i i) cương (i) tiên cương (i i i) nỉ đả!
(Chú giải của người dịch: Một câu
hát tẩu mã trong các tuồng cổ Trung quốc. Dịch
nghĩa: Tay cầm con roi sắt (tớ) sắp đánh mày. AQ vẫn
là khách quen các rạp tuồng!)
Mấy hôm sau, tình cờ AQ bỗng gặp
thằng cu D. trước bức tường xế qua nhà Cụ Cố họ Tiền. Tục ngữ
có câu: "Kẻ thù gặp mặt nhau thì mắt
trông thấy rõ mười mươi". AQ bước tới, cu D. cũng dừng
chân đứng lại.
AQ mắng và lườm cu D. bằng một cặp mắt rất dữ tợn, rồi nhổ một bãi nước bọt:
- Đồ súc sinh!
- Tớ là giống sâu bọ, thỏa dạ chưa?
Câu trả lời nhún nhường của cu D.
trái lại làm cho AQ càng điên tiết. Nhưng
trong tay AQ lúc bấy giờ không sẵn có một cây
"roi sắt" nên y đành phải vồ tới, dang cánh tay ra
cố níu lấy cái đuôi sam của cu D. Cu D., một tay
giữ chặt đuôi sam của mình, còn tay kia cố
gò lấy đuôi sam của AQ ... AQ cũng lật đật đưa cánh
tay còn rảnh kia ra giữ thật chặt lấy đuôi sam của y. So
với AQ độ trước thì sức vóc cu D. thấm vào
đâu. Nhưng gần đây, phải nhịn đói, y cũng gày
gò, ốm yếu không khác gì cu D. ... Bởi vậy,
lực lượng hai bên địch thủ thật là tương đương. Bốn
cánh tay giằng co lấy hai cái đầu, hai lưng cũng đều
gò cong hẳn lại, in bóng lên bức tường vôi
trắng xóa nhà họ Tiền thành một đường vòng
cung y như một cái cầu vồng màu chàm, lâu
có đến nửa giờ đồng hồ là ít. Những người đứng xem
hình như muốn hòa giải, nói:
- Hảo lớ, Hảo lớ!
Một bọn khác cũng gào to lên:
- Hảo, hảo! (Lời người dịch: Hảo trong tiếng Trung quốc còn có nghĩa là thôi, thôi.)
Không rõ họ có ý hòa giải hay là khen, hay là xúi giục.
Nhưng cả hai chú đều không ai nghe
thấy gì cả. Hễ AQ tiến lên ba bước thi cu D. lùi
lại ba bước, rồi cả hai đứng lại. Mà cu D. bước tới ba bước
thì AQ lại lùi ba bước, rồi cả hai lại đứng lại.
Có độ ngót
nửa giờ, hoặc giả hai mươi phút cũng
nên - ở làng Mùi không có đồng hồ
nên khó nói cho đích xác - đầu hai
chú đều bốc hơi lên, mồ hôi trán chảy đầm
đìa ... Bỗng thấy AQ bỏ tay ra. Ngay lúc ấy, cu D. cũng
bỏ tay ra nốt. Cả hai chú cùng một lúc đứng thẳng
dậy, cùng một lúc lùi ra xa, rồi cả hai lẩn
vào đám người đứng xem.
AQ còn ngoảnh đầu lại:
- Nhớ lấy nhé ! Con mẹ mày !
Cu D. cũng ngoảnh đầu lại, chửi bới:
- Con mẹ mày, nhớ lấy nhé !
Trận "long hổ đấu" này kết cục đại
khái có thể nói là "bất phân thắng
phụ". Không biết khán giả có được hài
lòng lắm không, bởi vì không nghe ai
bàn tán gì. Nhưng vẫn không một ai gọi AQ đi
làm thuê cả.
Một hôm, trời ấm, gió thổi hiu hiu
có khí vị tiết hè. Thế mà AQ vẫn rờn rợn
rét. Tuy vậy, rét cũng còn có thể chịu
được. Khổ nhất là cái bụng đói. Mền bông, mũ
lông cừu, áo, đều không còn cái
nào nữa. Cả cái áo chẽn bông cũng bán
rồi. Bây giờ còn một cái quần, chả nhẽ cũng cởi nốt
đi hay sao? Còn như cái manh áo kép
rách kia thì đem biếu người ta đóng gót
dép họa có kẻ lấy, chứ đem bán thì một đồng
xu cũng chả đắt! Đã nhiều phen, AQ những ước ao bắt được chuỗi
tiền con nhà ai đánh rơi giữa đường, nhưng chưa hề thấy
chuỗi nào cả. Cũng lại nhiều phen, y cố nhìn kỹ cả bốn
góc nhà y ở, may có thấy gì chăng, nhưng
bốn góc nhà vẫn trống không, có gì
đâu! AQ bèn quyết chí đi kiếm ăn vậy.
Trên con đường làng, AQ lang thang
đi kiếm ăn. Y nhìn thấy những quán rượu, những
hàng quà, hàng bánh xưa nay vẫn quen
Nhưng y đều lảng đi qua, không những không dừng
chân lại mà cũng không có ý
thèm thuồng gì cả. Điều AQ ước ao bây giờ
không phải những thức đó. Y ước ao những gì,
chính y cũng không rõ.
Làng Mùi vốn là một
làng bé nhỏ, đi chả mấy chốc là cùng
làng. Trước làng có nhiều ruộng sâu,
trông toàn một màu xanh mướt của mạ non. Giữa đồng,
một vài chấm đen đen, tròn tròn có vẻ linh
động: ấy là mấy chú nông phu đang cặm cụi
làm việc.
Nhưng AQ bụng đâu nghĩ đến việc thưởng
thức cái cảnh vui vẻ đó của đồng quê. Y cứ
cúi đầu rảo bước. Y cảm thấy cảnh đó không
dính dáng gì với việc y đi kiếm ăn cả. Một
lát sau, y đến chùa Tĩnh Tu. Xung quanh chùa cũng
có một cánh đồng sâu. Mấy bức tường quét
vôi trắng nổi hẳn lên giữa cánh đồng xanh thẳm.
Đám đất mé sau nhà chùa, gần bức tường đất
thấp, là một vườn rau. AQ do dự một lúc, nhìn
quanh nhìn quất một lúc, không thấy một ai qua lại.
Y trèo lên tường, níu lấy cành hạ thủ
ô. Đất sét đầu tường lác đác rã
xuống. Chân y cũng run lập cập. Cuối cùng, y vớ được một
cành dâu, phóc ngay vào trong vườn. Trong
chùa, góc này rất là sầm uất. Chỉ hiềm điều
ở đây không có rượu, không có
bánh bao, không có một thức gì "nhai được"
tất cả. Gần bức tường phía tây, có một lùm
tre, dưới lùm tre có nhiều búp măng, khốn nỗi bấy
nhiêu măng lại toàn là măng chưa nấu. Còn
mấy luống rau thì thứ đã kết hạt, thứ đương đâm
bông, thứ thì già cỗi. Cay đắng như một cậu đồ hỏng
thi, AQ chầm chậm đi lần ra mé trước.
Nét mặt y bỗng hớn hở hẳn lên. Y
vừa trông thấy mấy vồng củ cải. Y ngồi xổm ngay xuống, rứt mấy
gốc. Thoạt tiên, một cái đầu tròn tròn
lù lù ra từ trong cửa nách. Cái đầu ấy vừa
lù ra lại thụt vào
ngay: rõ ràng là cô
tiểu hôm nọ. Xưa nay, lũ tiểu này, AQ xem bằng rác.
Nhưng ở đời cũng phải tùy thời thế, cho nên AQ lật đật nhổ
bốn gốc cái, ngắt lá vứt đi rồi nhét cả vào
thân áo. Giữa lúc đó
thì sư bà vừa ở trong chùa đi ra.
- Nam mô a di đà Phậ ... ậ ... ật!
AQ này, sao lại nhảy vào vườn mà ăn cắp của
nhà chùa làm vậy! Ái chà! Nam
mô a di đà Phật! Tội chết! Ái chà
chà! ... Nam mô a di đà Phật!
AQ chân bước, mắt nhìn quanh, nói:
- Ai nhảy vào vườn nhổ trộm cải nhà bà? Bao giờ nào?
Sư bà chỉ vào thân áo:
- Bao giờ nữa? Đấy kia! ...
- Đây là của nhà bà đấy à? Bà gọi lên xem nó có thưa không?
...
AQ chưa nói xong đã bỏ chạy ... Số
là một con chó đen to tướng ở đâu chạy thốc ra
đuổi. Con mực này vẫn nằm đằng cửa trước, chẳng biết vì
lẽ gì bây giờ lại tót mãi ra tận sau
này. Con chó vừa đuổi vừa cắn, và sắp đớp một
miếng vào ngang đùi AQ. May sao, từ thân áo
một củ cải té ra. Mực ta giật mình một cái, đứng
dừng hẳn lại. Trong lúc ấy, AQ đã trèo lên
cây dâu, nhảy phốc qua tường, rồi cả người lẫn củ cải cũng
lăn nhào ra mái ngoài. Trong vườn, dưới gốc
cây dâu, chỉ còn con Mực đứng cắn ăng ẳng và
sư bà đứng niệm phật.
AQ những áy náy lo rằng cô
tiểu sẽ lại thả con Mực ra đuổi theo. Lật đật, y nhặt mấy củ cải rồi
cắm đầu chạy. Dọc đường, y còn nhặt thêm mấy hòn
đá phòng bị. Nhưng không thấy nó ra, y vất
đá, vừa chạy, vừa gặm củ cải, vừa nghĩ bụng "Vùng
này ngó bộ làm ăn chẳng xong! Ta đi lên
huyện vậy!"
Gặm hết ba củ cải, AQ nhất quyết sẽ lên huyện.
6. LÊN VOI XUỐNG CHÓ
Mãi đến trung thu năm ấy, làng Mùi mới lại thấy bóng AQ ...
Cả làng ngạc nhiên bảo nhau: AQ
đã về! Bấy giờ người ta mới có kẻ tự hỏi: Lâu nay
nó đi đâu nhỉ? Xưa kia, mỗi lần lên huyện về, AQ vẫn
hớn hở chuyện trò với mọi người. Nhưng lần này,
không thế. Vì vậy không ai chú ý đến.
Dễ thường AQ cũng có thỏ thẻ một vài câu với
lão từ đền Thổ Cốc, nhưng lệ thường ở làng Mùi,
chỉ có những lúc nào Cụ Cố họ Triệu, Cụ Cố họ
Tiền, hoặc thầy Tú Triệu lên huyện kia thì người ta
mới coi là việc quan trọng. Còn ngoài ra, cả
lão Tây giả kia có đi về cũng chẳng ai quan
tâm nữa là AQ!
Vì vậy nên lão từ cũng
không đồn đại gì về việc AQ đi cả, thành thử trong
làng không ai biết mối manh gì.
Lần này AQ ở huyện về khác hẳn mấy
lần trước. Trông y có vẻ là lạ. Trời đã
nhá nhem tối. Y vào quán rượu, cặp mắt ngái
ngủ. Y tới trước quầy, nắn trong lưng ra một tay đầy tiền đồng
và bạc hào, xỉa ra và nói:
- Tiền mặt đây này, rượu đâu đưa ra đây?
Y mặc chiếc áo kép mới, lưng đeo
một cái ruột tượng nặng trĩu làm cho cái thắt lưng
sả hẳn xuống đằng trước thành một đường vòng cung. ở
làng Mùi, vẫn có cái thói hễ thấy ai
hơi có máu mặt thì người ta vẫn nghĩ: đối với hạng
người này thà kính trọng họ một chút
còn hơn là tỏ vẻ khinh bỉ. Bây giờ, dù biết
rằng vẫn là AQ đấy, nhưng không phải như thằng AQ với tấm
áo rách dạo trước nữa. Cổ nhân có câu:
"Sĩ biệt tam nhật, tiện đương quát mục tương đãi"
(Chú thích của người dịch: Một câu danh ngôn
của Lã Mông đời Tam quốc nói với bạn. ý
nghĩa: Ba ngày không gặp mặt một kẻ sĩ thì khi gặp
lại, nên biết trọng đãi hơn mọi hôm, vì
họ có thể tiến bộ khác trước nhiều rồi.)
Vì vậy mà cả làng
Mùi, từ anh hầu sáng, ông chủ quán,
khách uống rượu cho đến kẻ qua đường, đối với AQ ai nấy đều tỏ
ra vừa ngờ vực vừa kính trọng. Bác chủ quán gật
đầu luôn mấy cái rồi lạ trò chuyện vồn vã:
- Kìa A Q! Đã về đấy à?
- Vừa về xong.
- Phát tài chứ? ... Thế lâu nay ...
- Ở trên huyện mà!
Tin đó sáng hôm sau
đã lan ra khắp làng. Cả làng ai cũng ước ao biết
rõ lai lịch cái túi tiền và cái
áo mới của AQ. Bởi vậy, ngoài quán rượu, trong
tiệm trà cho đến dưới hiên đình, người ta chỉ trầm
trồ dò la từng ấy chuyện. Kết quả là AQ lại được người ta
trọng vọng thêm. Theo lời AQ thì lâu nay y
làm công ở nhà Cụ Cử trên huyện. Chỉ một
chút đó cũng đã làm cho người nghe lấy
làm kiêng nể rồi. Cụ Cử vốn là họ Bạch, nhưng
vì cả vùng chỉ có một cụ là đậu cử
nhân, nên trong lúc xưng hô, cũng không
cần phải dùng chữ "Bạch" mào đầu lên trên hai
chữ cử nhân nữa. Chỉ gọi cụ Cử là ai cũng hiểu rồi. Lối
xưng hô này chẳng phải riêng gì cho
làng Mùi. Chung quanh vùng này có
trăm dặm đường đất, ai cũng gọi như vậy. Đến nỗi có nhiều người
yên trí rằng cụ là họ Cử tên Nhân!
Làm công ở nhà cụ Cử là một điều đáng
trọng rồi, thế mà AQ còn nói: y không
thích làm đó nữa vì cái cụ Cử
này thật ra cũng "mẹ kiếp chúng nó" lắm! Mấy người
được nghe câu chuyện này vừa tiếc rẻ vừa khoái
chí. Khoái chí ở chỗ AQ không thèm
làm việc với cụ Cử mà tiếc rẻ là sao lại
không làm.
Vẫn theo lời AQ thì lần này y trở
về làng một phần nữa cũng là vì y ghét bọn
người trên huyện. Thì ví dụ chúng nó
cứ gọi cái ghế dài kia là tràng kỷ, lại như
lúc rán cá chúng nó cứ gia vị bằng
nhánh hành. Nhất là cái thói
xấu y vừa khám phá ra, tức là cái kiểu bọn
đàn bà con gái lúc chúng nó
đi đứng cứ ưỡn ẹo trông đến khó coi. Tuy vậy, AQ cũng nhận
rằng: trên huyện cũng có những điều đáng phục. Tức
như ở làng Mùi đánh bài thì chỉ biết
chơi thứ bài ba mươi hai con, và chỉ có một
mình lão Tây giả là biết chơi "mạt chược".
Mà trên huyện thì đứa oắt con mới nảy mũi ra cũng
chơi mạt chược thạo rồi! Cứ để chú Tây giả ở làng
đánh thử với một thằng ranh con trên ấy thì lập tức
thấy rằng chả khác gì "quỉ sứ vào điện Diêm
vương"! Câu chuyện này những kẻ được nghe ai cũng đều lấy
làm xấu hổ.
- Này, các bác đã thấy chặt đầu người hay chưa nhỉ? Úi chào!
Vui lắm! Giết tụi cách mạng ấy mà! Úi chao chao! Vui, vui quá cơ!
AQ vừa nói vừa lắc lư cái đầu,
nước bọt cứ bắn vào mặt bác Triệu Tư Thần đứng trước y.
Câu chuyện chặt đầu này, ai nghe cũng phải rùng
mình rởn gáy. Nhưng AQ lại nhìn quanh quất một
hồi, bỗng dang cánh tay phải ra, nhằm vào cái cổ
cò hương của lão Vương Râu đang đứng nghe chăm
chú bổ ngay vào gáy:
- S ... sật!
Lão Vương Râu hết hồn hết
vía thụt ngay cả đầu lẫn cổ xuồng, nhanh như chớp nhoáng,
như đá tóe lửa, trong lúc đó thì
người nghe đứng xung quanh vừa sợ hãi, vừa thích
thú. Sau đó, có mấy ngày trời, lão
Vương Râu vẫn còn choáng váng cả đầu
óc, nhất định không dám lại gần AQ nữa; những người
khác cũng vậy. Trước con mắt dân làng Mùi
lúc bấy giờ, địa vị AQ dù chưa có thể nói
rằng oai hơn Cụ Cố họ Triệu, nhưng nói xấp xỉ thì cũng
chẳng sai bao nhiêu.
Chẳng bao lâu, danh tiếng AQ đã
lừng lẫy đến trong chốn khuê phòng làng Mùi.
Thực ra, trong làng Mùi chỉ có hai nhà
có thể gọi là khuê phòng: ấy là
nhà họ Triệu và nhà họ Tiền. Ngoài ra
chín phần mười, chả nhà nào là có
khuê phòng cả; nhưng buồng đàn bà con
gái nào mà chẳng gọi là khuê
phòng? Cho nên danh tiếng AQ đồn đại khắp khuê
phòng cũng cho là một sự lạ đi! Các bà hễ
gặp nhau là trầm trồ những chuyện như là: thím Bảy
Trâu vừa mua lại của AQ được một chiếc quần lụa màu xanh
lam, cũ một tí, nhưng "chỉ có chín hào bạc
thôi!", hoặc là bà mẹ bác Triệu Bạch Nhẫn -
một tin khác nói chính là bà mẹ
bác Triệu Tư Thần cơ, chO