Nhìn lại những chặng đường đã qua
Nguyễn Văn
Trung
Phần I
Tha thứ và xin tha thứ
Nguyễn Văn Trung
“…
Tha thứ và xin tha thứ quả thật rất khó,
không đơn giản chút nào vì
tha
thứ và được tha thứ không phải chỉ là
trả một món nợ mà chính là
phục
hồi một quá khứ …”
I
Tha thứ và xin tha thứ
Hồi 1988, trong khung cảnh chính sách đổi mới,
tôi viết một bài dài
khoảng 20 trang: “Nhìn lại những chặng đường
đã qua” theo đề nghị của
tạp chí Nghiên Cứu Việt Nam (Études
vietnamiennes),
nhà xuất bản Ngoại Văn ở Hà Nội, lúc
đó do ông Nguyễn Khắc Viện phụ
trách, nhưng không biết tại sao đã
không được đăng. Bước vào năm 2000,
tôi đã 70 tuổi. Nhiều người đề nghị tôi
“nhìn lại những chặng đường tôi
đã đi qua”. Tôi thấy tôi phải
đáp lại yêu cầu này và vẫn
giữ tinh thần,
thái độ như đã bày tỏ trong
bài viết hồi 1988 ở Saigon.
Trước tiên, xin ghi lại mấy đoạn chính sau
đây trong bài viết cũ vừa
kể: “Thực tế đất nước hiện nay đã quá
rõ để cho tôi và mọi người Việt
Nam quay nhìn lại quá khứ gần đây, thấy
được những ảo tưởng, sai lầm
của mình bất cứ ở xu hướng nào hay từ sự lựa chọn
nào”... Nếu chính tôi
bây giờ mới hiểu những ảo tưởng của mình, của cả
nước liên quan đến
những lựa chọn căn bản về những mục tiêu chính:
Độc lập, tự do, thống
nhất, phát triển vào những khúc ngoặt
lịch sử của dân tộc như 1945,
1955, 1975, làm sao tôi có thể
phê phán đổ lỗi cho người khác với
thái
độ an tâm, coi sai trái là ở nơi người
khác, nhất là ở những kẻ cầm
quyền?
Trong hồi ký Việt Nam Máu Lửa
Quê Hương Tôi của ông Đỗ Mậu
mà tôi chỉ được đọc qua bài giới thiệu
trong tạp chí Đất Việt
của Hội Việt Kiều Canada, tháng Mười năm 1987, ông
Đỗ Mậu đã khẳng định
thảm kịch ở Việt Nam bắt nguồn từ sự chém giết sống
mái của cộng sản
quốc tế và công giáo quốc tế
trên thân xác đại đa số nhân
dân Việt Nam.
Đặc biệt ông phê phán gay gắt chế độ
ông Diệm. Riêng tôi, Đức Cha
Nguyễn Văn Bình, cha Trần Hữu Thanh, ông
đã tách ra. Tôi không
dám nhận
vinh hạnh được tách rời ra đó. Điều tôi
muốn thưa với ông Đỗ Mậu là nếu
đại đa số nhân dân Việt Nam kia và
chính ông Đỗ Mậu không ủng hộ một
trong hai nhóm thiểu số thì đâu
có cuộc đẫm máu như trên?
Ở trong nước, hiện cũng có xu hướng phê
phán kết tội cấp lãnh đạo như
thể chỉ họ gây ra thực tế hiện nay. Thế thì những
người đã theo cách
mạng, thậm chí đảng viên, giữ nhiều chức vụ cao
thấp trong guồng máy
này, không có trách nhiệm
gì sao về những sai lầm của cấp lãnh đạo
mà
bây giờ về hưu hay mất quyền, mới lên tiếng
phê phán, đổ tội cho người
khác?
Tôi nghĩ rằng tình hình thực tế như
bây giờ, một phần dân chúng sống
bằng ăn xin và ăn xin cả những người đã buộc phải
bỏ nước ra đi, tất cả
chúng ta đã bị lột trần, không ai
còn nhân danh gì được để phê
phán kết
án người khác với bàn tay sạch... Như
vậy, mọi phê phán theo tinh thần
đổ tại người khác chỉ gây thêm
phân hoá chia rẽ và do đó
đưa đất nước
này đến chỗ suy sụp trầm trọng hơn nữa mà
thôi.
Trái lại nên chịu khó ngồi lại với
nhau, không phải để phê phán, hoặc
chỉ để phản ánh cái tiêu cực,
mà để cùng nhau tìm hiểu tại sao đất
nước
lại đi tới tình hình hiện nay, tìm
hiểu những điều kiện nguyên nhân
khách quan nào đã quy định chi phối
những lựa chọn căn bản có tính
chiến lược lâu dài mà bây giờ
mới thấy là sai lầm... Vấn đề không phải
là ai thắng ai, mà là tại sao miền Bắc
đã thắng, miền Nam đã thua, và
rút cục tại sao tất cả đều thua và thua
chính mình. Hoặc nói cách
khác,
miền Bắc đã giải phóng miền Nam, nhưng
xét về mặt nhận thức, sau mười
ba năm, có thể nói việc giải phóng
miền Nam về quân sự chính trị đã
giải phóng cả miền Bắc và miền Nam về mặt nhận
thức.
Con đường đưa đất nước này đứng dậy, đi lên, khỏi
sa xuống vực thẳm, để
trút bỏ niềm tủi nhục mà mọi người đều cảm nhận
khi xem tivi Thế Vận
Hội Séoul 88 là trước hết nhận ra được những
nguyên nhân khách quan nào
đã đưa dân tộc đến thảm cảnh hiện nay. Việc
tìm hiểu giải thích một
cách khoa học này không đưa đến
phê phán, kết án mà chỉ đưa
đến một cảm
nhận với niềm thông cảm và liên đới
trách nhiệm.”
Sau hơn 10 năm, hiện tượng phê phán tố
cáo người khác, không phải thuộc
phe địch mà thuộc phe “ta”, trong nội
bộ, không những không suy giảm mà
còn gia tăng đến mức những người lãnh đạo cao cấp
nhất, tố cáo nhau qua
những tài liệu được viết ra dưới dạng hồi ký như
của ông Trần Quỳnh đề
cao các ông Lê Duẩn, Lê Đức
Thọ và tố cáo mạt sát ông
Võ Nguyên Giáp.
Ông Giáp vẫn giữ im lặng. Nhưng có
đàn em của ông lên tiếng đáp
lại.
Đây là những chuyện thuộc thâm cung
bí sử cơ mật trong BCTTUĐ mà kẻ nào
tiết lộ là vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng.
Ông Trần Quỳnh chắc hẳn
biết rõ điều đó, nhưng ông thấy cần
tiết lộ chuyện nội bộ để cho “các
thế hệ mai sau một ít tư liệu hiểu đúng lịch sử
cha ông họ”. Những tài
liệu này cũng như những tài liệu khác
của ông Bảy Trấn, Trần Độ, v.v..
đều được phổ biến rộng rãi ở hải ngoại. Trước khi
tôi ra nước ngoài,
một người bạn đi thăm con ở Mỹ về cho biết tôi sang
bên đó sẽ được
nghe, đọc những gì bẩn nhất của miền Nam trước 75 được phơi
bày qua
sách báo hải ngoại.
Tôi có cảm tưởng giới trẻ ít quan
tâm những sách báo tố cáo
chụp mũ lẫn
nhau này. Nhưng những người có liên hệ
gia đình với các đối tượng chỉ
trích hay bị chỉ trích, không thể
không tìm hiểu đâu là sự thực
trong
các tài liệu sách báo in
ra, hoặc không thể không thắc mắc trước những
vụ xuống đường, tuần hành mà họ chứng kiền, như
vụ Trần Trường ở
California. Họ nghĩ gì về tư cách của cha anh họ,
những thế hệ đã liên
hệ trực tiếp đến các biến cố, sự kiện được nêu
trên? Họ có kính trọng
không hay chỉ kính vì là
đàn anh, cha mẹ hoặc lứa tuổi với cha mẹ, chú
bác họ mà không trọng, không
phục? Một số sinh viên Evergreen College,
San Jose đã lên tiếng thắc mắc, phàn
nàn về những vụ tố cáo, đả đảo
loạn xạ trong cộng đồng:
“Quí vị biểu tình chống ca sĩ Thanh Lan
được cộng sản Việt Nam cho
qua Mỹ để giao lưu văn hoá” cho cộng sản; Chống
Nguyễn Ngọc Linh, chống
Thời Báo
của Vũ Đình Nghi bị chụp mũ thân cộng; biểu
tình trước chùa Đức Viên và
xâm nhập vào chùa lục soát
tìm TT Thích Trí Dũng 93 tuổi, biểu
tình
chống Đại Nhạc Hội Dạ vũ hè 98 mà Nguyễn Ngọc
Ngạn làm MC”.v.v.. (Theo Thời
báo số 2439, Thứ Bảy, Chủ Nhật 09,10-01-1999 San
Jose)
“Qua hình thức biểu tình với danh nghĩa
chống cộng tự coi là người Quốc
gia chân chính, mà lại cầm
cái mũ cộng sản đi chụp các người
khác.
Nhiều trí thức trẻ đã quyết định về Việt Nam
tìm hiểu tại chỗ như
Nguyễn Tú Minh 22 tuổi cùng người chị ở
California về thăm Việt Nam
(xem mục “Thời sự đặc biệt về quốc nội”,
Thời Báo Canada, số 532 ngày
10-03-2000).
Hoặc giả một Phan Trần Hiếu đã chứng kiến những vụ biểu
tình chống Trần
Văn Trường treo cổ cộng sản và bích chương HCM
trong tiệm phim của mình
với tư cách nhà báo của tờ The
Orange Country Register,
trở về Việt Nam tìm hiểu nguồn gốc gia đình
mình, gia đình Trần Trường
v.v... về Hoa Kỳ viết báo, in thành
sách bằng tiếng Anh và tiếng Việt
230 trang” (Theo: Phan Trần Hiếu, Cội Nguồn Bất
An, Roots of Unrest, xuất bản tại Hoa Kỳ 1999).
Còn giới trẻ trong nước như Thịnh Lê, 24 tuổi cho
biết 80% người ở lứa
tuổi anh không biết ý nghĩa của các
tên đường mang danh những nhân vật
cách mạng, nhưng lại biết rõ về các ca
sĩ Mỹ như Madonna, Michael
Jackson... “Chúng tôi không
thể được phân tích theo một điều gì
đó - ý
thức hệ hay tôn giáo, tinh thần yêu
nước. Trước đây người ta coi trọng
chính trị hoặc là theo hay chống cộng, theo hay
chống thực dân. Ngày
nay chúng tôi đã trở thành
cá nhân hoá... giống như giới trẻ ở Mỹ,
chỉ
có thể coi những thành quả kinh tế hoặc lối sống
là quan trọng. (“Chúng
tôi chẳng màng chú ý tới
chính trị và các chính trị
gia”, Thời Báo Canada số 514
ngày 5-11-99).
Tuy nhiên cũng có những người trẻ thắc mắc lưu
ý đến chính trị, đặc
biệt thời kỳ Đệ I Cộng Hòa, chẳng hạn về ông Diệm,
các bạn đặt câu hỏi:
có phải ông Diệm là người yêu
nước chân chính không? và chế
độ ông đứng
đầu có phải chỉ là bù nhìn
Mỹ dựng nên không? (Xem: Người Việt Daily
News OnLine
15-11-1997). Tài liệu cho thấy những lý lẽ của
những đàn anh hoặc bài
bác hoặc ca tụng ông Diệm; vậy đâu
là sự thực? Đọc những sách báo, một
số trí thức đã sinh ra trước hay sau 75 trở về
Việt Nam, ai cũng thấy
mình tìm lại được “quê cha
đất tổ” và gắn bó với quê
hương trước đây xa
lạ một cách thật gần gũi, thắm thiết, thậm chí
yêu thích cả tiếng Việt
mà họ chỉ biết nói bập bẹ, nhưng còn
thực tế Việt Nam, quá khứ và hiện
tại trong nước, ngoài nước, quả thật họ mới đã
chỉ biết nêu lên những
thắc mắc. Việt Nam bây giờ có đến năm thực tại.
thực tại Việt Nam của
những người ở trong nước nhìn tình
hình trong nước theo diễn tiến của
nó từ 1975 đến nay qua nhiều thay đổi. Thực tại Việt Nam của
cộng đồng
hải ngoại nhìn cộng đồng cũng theo diễn tiến những thay đổi
từ 75 đến
nay. thực tại Việt Nam ở hải ngoại theo người trong nước tưởng tượng.
Thực tại Việt Nam nội địa theo người ở hải ngoại tưởng tượng
là thật và
sau cùng thực tại Việt Nam của người ngoại quốc
nhìn Việt Nam theo quan
điểm, quyền lợi của họ.
Những người trí thức trẻ lớn lên trưởng
thành ở hải ngoại thấy khó hiểu
được sự thực chế độ miền Nam trước 75 của cha anh họ, vì một
số những
người thuộc thế hệ cha anh họ đã bôi nhọ,
bôi đen quá khứ đó bằng những
tố cáo, vu khống, chụp mũ nhau đôi khi thật
thô bỉ hạ cấp. Sách báo,
phim ảnh, thậm chí cả sách giáo khoa
của nước họ định cư cũng đầy dẫy
xuyên tạc, thiên vị bất công vô
tình hay cố ý vì có những
ký giả, nhà
biên khảo ngoại quốc nổi tiếng gây được sự nghiệp
nhờ thành tích phản
ánh một giai đoạn thời cuộc Việt Nam; nay họ không
dám tỏ ra hối tiếc,
can đảm nhìn nhận những sai trái, những ảo tưởng
của mình về giai đoạn
đó để bảo vệ sự nghiệp của mình. Thực ra,
không thể trách người nước
ngoài có những cái nhìn
thiên lệch về Việt Nam, đặc biệt về chế độ miền
Nam trước 75; vì chính những người Việt Nam hải
ngoại, đáng lẽ phải làm
chứng sự thực cho nó, thì hành động
hay cách hành động của họ lại chỉ
có tác dụng biện minh thêm những
cái nhìn thiên kiến, thiên vị
của
người ngoại quốc.
Về Việt Nam, tìm hiểu tại chỗ, những trí thức trẻ
của cộng đồng ở hải
ngoại cũng khó nhận diện chế độ miền Nam của cha anh họ,
vì chế độ này
không còn hoặc chế độ hiện hành
đã lật đổ nó, làm cho cha anh họ bỏ
nước ra đi, cũng đã và đang tự thay đổi. Nhưng
nếu họ tiếp xúc được với
những người của chế độ hiện nay đã thay đổi là
lối nhìn xác tín của
mình như Phan Trần Hiếu thuật lại trong cuốn sách
của anh, thì quả thật
những tiếp xúc đó đã giúp
họ hiểu được một cách trung thực hơn đôi
chút
thực tế của miền Nam trước 75 và của chế độ hiện nay qua
diễn tiến của
nó từ 75 đến bây giờ.
Việc đi “thực tế” tại chỗ, ngay tại quê
hương Việt Nam như Phan Trần
Hiếu đã làm cho họ điều kiện nhận ra tư thế của
họ và những ước mơ họ
mong muốn: “Chúng tôi đứng mỗi
chân trên một thế giới, chúng
tôi có hai
căn cước. Trong khi chuyền tay ngọn đuốc tự do, phải chăng
chúng tôi đã
có đủ tầm nhìn để vinh danh quá khứ
và chào đón tương lai? Ai sẽ tạo
được sự thống nhất mà người Việt Nam luôn
luôn mong mỏi nhưng chưa bao
giờ đạt đến? (tr. 225)
Sau cùng Phan Trần Hiếu nêu lại tám
câu hỏi gửi người đọc suy nghĩ và giải
đáp cho anh, cho thế hệ giới trẻ của anh. Chẳng hạn:
1. Về sự hận thù: thân mẫu của
tác giả có ý kiến nặng nề về
người nhà buôn (Trần Trường) đã
là mục tiêu của những cuộc chống đối ở
Wesminster “Đừng thương hại hắn sau khi con gặp gia
đình hắn”. Bà cảnh
giác con trai mình. Bạn có nghĩ
đó là một lời khuyên không?
Người Việt
có nhìn thấy hoàn cảnh một
cách sáng suốt, hay anh ta ngây thơ?
2. Về tha thứ: Người lính Việt Cộng tặng
một món quà cho thân
mẫu người viết. Anh ta nói cuộc đời cực nhọc của
mình đã giúp anh ta
hiểu được nỗi đau khổ của bà. Nếu bạn là
bà mẹ, bạn có nhận món quà
của
anh ta không?
3. Đổi thay: Nhiều người trốn chạy cộng sản chỉ nhớ
Việt Nam như
lúc mà họ ra đi thôi. Nếu họ trở lại
bây giờ, liệu họ có thể nào thấy
được đất nước đã thay đổi ra sao? Bằng cách
nào tác giả đã có thể vượt
lên trên những định kiến về Việt Nam? Người ta thay
đổi thái độ ra sao?”
Ông bạn chủ nhiệm một tạp chí hàng
tháng đưa cho tôi coi cuốn sách Cội
nguồn bất an
của Phan Trần Hiếu và nói với tôi:
chúng ta có trách nhiệm với người
trẻ này. Sau khi đọc xong, tôi cũng nghĩ như vậy.
Trong bài viết hồi
1988 “Nhìn lại những chặng đường đã
qua” tôi đã ghi: “chế độ
mà tôi
đang sống trong đây (tôi tránh
dùng từ cộng sản hoặc xã hội chủ nghĩa
vì không khoa học), chế độ này được
thiết lập ở miền Bắc từ 1945-1975.
Tôi không có trách nhiệm
gì về việc đó, Nhưng chế độ trên được
thiết
lập ở miền Nam từ 1975, thì tôi nhìn
nhận có phần trách nhiệm của mình,
vì những điều tôi nói, viết,
làm đã đưa một số người đi theo cách
mạng
và một số người khác không đi theo cũng
có thái độ chấp nhận ở lại. Sau
1975 tôi thường nghe họ trách:
“vì Thầy/vì Anh mà
tôi ở lại...”
*
**
Sau đảo chính 1963, tình hình miền Nam
xáo trộn, không ai có thể thờ ơ
với những vấn đề chính trị. GS Trần Ngọc Ninh, GS
Ngô Gia Hy và tôi ra
tờ Tìm Hiểu
in ronéo. Nhưng không bao lâu
tôi thấy phải ra khỏi giới giáo sư đại
học, tập hợp nhiều người cầm bút trẻ, kể cả những người
làm thơ, viết
tiểu thuyết. Chúng tôi ra tập san Hành
Trình vừa phân tách thời
cuộc, vừa có những sáng tác thơ văn
phản ảnh những suy tư, thái độ nhận thức... Tạp
chí đưa ra khẩu hiệu: Làm
cách mạng xã hội không cộng sản.
Lối nhìn này tác động vào
những người chống cộng ngay cả trong quân
đội. Tướng Lê Nguyên Khang biên thư cho
tôi bầy tỏ tán thành đường lối
của Tạp Chí vì “không thể
giải quyết chiến tranh này chỉ bằng súng
đạn”. Tạp chí giải thích những kinh
nghiệm quân đội làm cách mạng như
đang thấy ở Phi Châu, Nam Mỹ, đặc biệt giới thiệu Nasser
đã làm nảy nở
nơi các tướng tá trẻ ước muốn quân đội
làm cách mạng xã hội. Thế
Uyên,
nhà văn, có tham gia viết bài trong Hành
Trình, về sau ông đứng ra điều
hành tạp chí Thái Độ
sau khi Hành Trình ngừng xuất
bản, cổ võ cho xu hướng kể trên.
Nhưng những cố gắng suy nghĩ cụ thể mà tôi
đã đóng góp sau Hành
Trình rồi Đất Nước
là kế hoạch “Xây Dựng Nông
Thôn” của Đại Tá Nguyễn Văn
Bé, một người
kháng chiến cũ. Chúng tôi
thành lập một nhóm thân hữu
làm việc suy nghĩ
lý luận, gặp nhau ở Saigon hay ra Vũng Tầu “tại
bản doanh” của Đại Tá
Bé. Tôi ghi và viết ra một tập nhan đề
“Những lựa chọn căn bản” phân
tách thực tế xã hội miền Nam, những phương hướng
cơ bản xây dựng miền
Nam, tạo điều kiện thống nhất, những phương thức thực hiện cụ thể...
Hiệu quả của kế hoạch bình định, xây dựng
nông thôn sau 75 được tướng
Lansdale ghi lại trong một cuốn sách ông viết đại
ý như sau: “ông lái
xe jeep chở mấy vị dân sự cấp đại sứ, lãnh sự ban
đêm ở một vùng nông
thôn miền Trung, xe bị chặn lại hỏi giấy tờ, nhưng
không phải là V.C.
mà là cán bộ áo đen
Xây Dựng Nông Thôn, và như vậy
đánh tan huyền thoại
nông thôn quốc gia ban ngày, VC ban
đêm. Nhưng những thành quả đó
đã
không thay đổi được diễn tiến của thời cuộc.
Chiều tối 30-04-75 Đại Tá Bé đến tôi.
Chúng tôi đứng ngoài balcon cư
xá
tôi ở nhìn ngắm phố xá Saigon đang đổi
chủ mà không bình luận gì,
sau
đó tôi nói : “Đại
Tá nên đi ra nước ngoài.”
Ít năm sau, tôi nghe tin
ông vượt biên bằng đường biển, rồi qua đời ở
Mỹ.”
Quan điểm của Hành Trình cũng
tác động vào giới trẻ trí
thức, sinh viên ở các đô thị, tạo
ý thức về nhu cầu làm cách mạng
xã
hội không thể không làm cách
mạng xã hội, nhưng theo họ chỉ có cách
mạng xã hội cộng sản, không thể có
cách mạng xã hội không cộng sản
và
do đó họ ra Khu hay gia nhập các tổ chức tranh
đấu nằm vùng của cộng
sản, phê phán công khai trên
sách báo của họ về tính
cách ảo tưởng của
lập trường cách mạng xã hội không cộng
sản, nhưng vẫn phải thừa nhận
như Lữ Phương đã làm: Hành
Trình đã là chất
xúc tác chính đưa họ vào
con đường cộng sản.
Dưới đây là một đoạn khác tôi
viết trong “Nhìn Lại Những Chặng Đường
Đã Qua” năm 1988 vừa nhắc ở trên:
“Trí thức ở đô thị không thể
bằng lòng với mục tiêu giải phóng
dân tộc
được đề ra, họ muốn thấy xa hơn nữa, do đó không
thể không nói đến cách
mạng. Tôi đã nói về cách
mạng một cách công khai trên
sách báo hợp pháp
hay không hợp pháp để đáp lại
đòi hỏi trên của họ. Tôi đã
trình bày và
phê phán một cách nghiêm
chỉnh theo sự hiểu biết của tôi lúc đó.
Những
điều tôi viết có thể đúng,
có thể sai, nhưng đều xuất phát từ sự
chân
thành, thẳng thắn, và chỉ muốn tìm
hiểu sự thực trong tinh thần tôn
trọng người nghe, người đọc, không áp đặt bằng bất
cứ quyền lực nào, kể
cả quyền lực của người thày giáo, nhằm gợi
ý, thúc đẩy họ suy nghĩ và
phê phán. Trong hoàn cảnh miền Nam hồi
đó, ở các đô thị, lựa chọn đi
theo cách mạng hay có một thái độ
trí thức đối với cách mạng không phải
dễ, nhất là đối với những người không
có truyền thống gia đình làm
cách
mạng (cha ông làm cách mạng,
thì con, cháu đi theo). Trái lại nhiều
người xuất thân từ những gia đình di cư 1954, như
Trần Triệu Luật,
Nguyễn Trọng Văn, Thế Nguyên... Họ đã theo
cách mạng, không phải vì bị
tuyên truyền như người học sinh kể trên [1] cho
biết, mà vì tự ý suy
nghĩ, phê phán và tự lựa
chọn...”
Sau năm 1975, tôi gặp lại một số sinh viên cũ
đã ra khu, đi Hà Nội hồi
1967, 1968... Họ cho biết thái độ nhận thức của họ
đã làm cho những
người họ tiếp xúc và ngay chính họ
phải ngạc nhiên vì lối nhìn, suy
nghĩ rất khác nhau của đôi bên.
Với thời gian, họ cũng như tôi và có lẽ
tất cả chúng ta những người
đang sống trong “chế độ” đều ít nhiều
nhận ra là những niềm tin của
mình trước kia về con đường đi tới của đất nước chỉ
là một ảo tưởng
trước thực tế đất nước như hiện nay. Bây giờ những người quen
biết,
phía bên này hay bên kia đều
có những người đã chết, những người
còn
sống thì dằn vặt day dứt, nghi ngờ về những lựa chọn trước
đây của mình
và không hiểu được tại sao, chỉ thấy đau
xót. Ngay cả những người bạn
tôi mới quen từ miền Bắc vào sau 1975 cũng
có tâm trạng day dứt đau
xót, có những người bạc đầu đã hy sinh
gần hết cuộc đời mình, bây giờ
cũng tự hỏi: cả một đời xả thân cho cách mạng để
đi đến tình trạng này
sao? Họ cho tôi biết không phải chỉ mình
Tố Hữu khóc Staline chết mà cả
họ cũng làm thơ, cũng khóc thật chân
tình... chỉ sau này mới hiểu.”
*
* *
Những ai nhận ra ảo tưởng, ở phía bên
này hay phía bên kia nói
chung
đều thuộc giới trí thức. Đối với quần chúng,
là nạn nhân của thời cuộc,
họ chỉ biết cảm nhận và cam chịu một cách
âm thầm những hy sinh, mất
mát quá lớn. Quá khứ đầy nước mắt
và đẫm máu từ 50 năm qua còn
đè nặng
trên tâm trí họ, như bà mẹ
của Phan Trần Hiếu đã biểu lộ. Nhà xã
hội
học Bungari Lili Deyanova đã viết: “Ký
ức vùng Balkans này là một chất
độc. Ngay cả ở Bungari, phe tả cũng như phe hữu đều có. danh
sách những
người tử nạn, những vinh nhục. Vùng Balkans có
quá nhiều quá khứ để có
thể gánh chịu nổi” (Tuần báo Nouvel
Observateur, 15-21 Aout 1999). Quá khứ
trên dưới 50 năm của những người Việt Nam có lẽ
cũng vậy.
Quả thực ký ức là một chất độc đầu độc
và vì thế vấn đề quan trọng hơn
cả, cấp bách nhất là cần xác định:
phải giữ cái gì, phải quên
cái gì.
Những ai đã giữ một chức vụ, vai trò
nào đó trong hành chánh
quân sự,
sinh hoạt chính trị văn hoá hẳn đều đã
nhìn nhận -ít ra trong thâm
tâm-
những thất bại, ảo tưởng của mình, nhưng ít người
chịu nhận trách nhiệm
về phần mình khi tìm hiểu những nguyên
nhân thất bại, ảo tưởng và
thường đổ lỗi cho người khác. Về mặt tâm
lý xã hội, trước một số sự
kiện có tầm mức rộng lớn liên quan đến số phận của
tập thể dân tộc như
ngoại bang xâm lược hay chế độ độc tài, đảng trị,
những nạn nhân có xu
hướng tạo ra những bung xung (bouc émissaire) ở trong một
giới xã hội
nào đó đảm nhận vai trò thủ phạm
gây nên những thảm bại, tai họa... để
cho tất cả người khác có được lương tâm
yên hàn....
Về chuyện Thực Dân, có sự kiện đông đảo
người Việt Nam không Công giáo,
có thể chia rẽ thù địch nhau nhưng lại đồng
tình về lối nhìn đối với
người Việt Nam công giáo. Ngay cả trí
thức làm luận án tiến sĩ bằng
tiếng nước ngoài như ông Lê
Thành Khôi phê phán
nhà Nguyễn thật nghiêm
khắc về mọi mặt, trừ chính sách đối với
công giáo. Việc cấm đạo, bách
hại người công giáo, theo ông, được biện
minh như lý do bảo vệ an ninh
quốc gia (raison d'État). Không thiếu
gì những người ngoài công
giáo
theo Tây, cộng tác với Tây, nhưng chỉ
người công giáo mới bị nhắc đến
chỉ vì cái tôn giáo họ theo.
Bao lâu người không công giáo
còn coi
người công giáo là vật tế thần, bung
xung để che giấu những yếu kém
biện minh những bất lực thất bại của mình hay triệt để hơn
nữa bao lâu
chưa dám nhìn lại mình qua người
công giáo xem mình đã
Tây hoá, nghĩa
là đã Kitô hoá đến mức độ
nào. về văn hoá và do đó tố
cáo người công
giáo là tự phê, tự tố cáo,
không thể nói đến hòa hợp
hòa giải dân tộc
về mặt tín ngưỡng...
Ngày nay, từ “cộng sản” được
dùng để tố cáo người cộng sản và cả
những
người không cộng sản, suy nghĩ, hành động
khác mình cũng để che giấu
biện minh những yếu kém, bất lực, thất bại của
mình...
Tuy nhiên cũng có một vài tiếng
nói của những lãnh tụ đảng phái quốc
gia thẳng thắn đề cao những gì là công
lao của Việt Minh và không đổ
mọi trách nhiệm cho người cộng sản, vì theo
các vị này, những lãnh tụ
quốc gia cũng phải chịu trách nhiệm về phần mình.
Những nhận định như
thế có thể tìm thấy thấy trong hồi ký Việt
Nam Những Ngày Lịch Sử của ông Nguyễn
Tường Bách và Hồi ký Nguyễn
Xuân Chữ
xuất bản gần đây ở nước ngoài. Nếu một
bên nhìn nhận những lỗi lầm,
thiếu sót về phần mình, hành động
đó về mặt trí thức, đạo lý,
thì điều
bắt buộc là phía bên kia cũng phải
làm tương tự. Có như vậy mới có thể
cùng nhau vượt quá khứ hướng về tương lai. Nhưng
nếu có người nhìn nhận
lỗi lầm, sai trái về phần mình, lại bị người
khác đố kỵ, oán ghét lợi
dụng những thú nhận của mình làm một
bằng cớ tố cáo kết án mình như một
nhóm trí thức mệnh danh Phật giáo ở
hải ngoại đã và vẫn còn làm
đối với
người Công giáo thì quả thật
“hết chuyện để nói”!
Chia rẽ, oán thù không phải chỉ xảy ra
giữa các bên đối nghịch mà
còn
trong nội bộ một bên, một giới... Gần đây
đã có những người lên tiếng
tố cáo kết án công khai người đồng đạo,
đồng đảng ngay trong giới lãnh
đạo cao cấp hơn cả, gây nên những lời qua tiếng lại
thật nặng nề...
chắc hẳn người đọc là người đồng đạo đồng đảng
không đứng về phía nào,
không vui thích gì trong khi người
ngoài đố kỵ, oán ghét lấy
làm hả dạ,
cổ võ phổ biến rộng rãi những tố cáo
kết án nhau này. Về mặt chính trị,
làm chính trị, người ta có thể
làm như vậy, nhưng về mặt tư cách, đạo
lý thì sao?
Nhiều trí thức đã có địa vị sự nghiệp
ở nước ngoài, hồi ông Diệm lên
cầm quyền năm 1954, về nước giúp ông. Sau một thời
gian, thất vọng vì
ảo tưởng của mình, đã âm thầm rời bỏ
tham gia chính quyền, trở lại
Pháp, Hoa Kỳ, và cho đến nay, những thất vọng của
họ vẫn “sống để trong
bụng, chết mang đi”, không hề thấy những
trí thức này lên tiếng phê
phán đả kích chế độ ông Diệm. Hồi 1945,
đông đảo trí thức ở nước ngoài
hoặc trong nước đã theo ông Hồ, theo
kháng chiến cũng đã thất vọng, có
người bỏ Đảng, nhưng cho đến nay vẫn giữ yên lặng, Phải chăng
có thể
gọi họ đều là những kẻ hèn nhát? Hay
phải nói là vì tự trọng mà
họ giữ
im lặng? Và phải chăng chỉ những người lên tiếng
tố cáo mới can đảm?
Nhưng cho dù những người lên tiếng phê
phán tố cáo một lý tưởng một chế
độ mà trước đây họ đã tin theo, ca
tụng, phục vụ và thậm chí đã mạt
sát
thậm tệ những kẻ chống lại họ đó có
nói đôi điều đúng đi nữa,
thì những
người đã từng nghe họ trước đây xưng tụng
làm sao có thể tin những điều
họ nói bây giờ như thể họ đã
không dính lứu với lý tưởng chế độ họ
đã
tôn thờ và phục vụ? Nếu bây giờ họ muốn
được lắng nghe, trước hết họ
cần can đảm khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm,
chia sẻ liên đới trách
nhiệm với chế độ mà họ phê phán đả
kích, như một trí thức Pháp
đã theo
đảng và sau bỏ đảng viết hồi ký
“Quá khứ một ảo tưởng”:
“Sau cùng, xin có một
lời về tác giả, vì bất cứ cuốn sử nào
cũng đều là
cuốn sử của chính mình. Tôi
có một liên hệ về tiểu sử và đề
tài mà tôi
nói ở đây “Quá khứ một ảo
tưởng”. Tôi chỉ việc trở lại những năm
tháng
tuổi trẻ mà tôi là đảng viên
từ 1949 đến 1956 để tìm ra dĩ vãng của một
ảo tưởng. Vấn đề mà tôi thử tìm hiểu
ngày nay, như vậy, không thể tách
rời khỏi đời tôi. Tôi sống trong nội tâm
ảo tưởng mà tôi thử nhìn lại
chặng đường đã qua vào một trong những thời kỳ ảo
tưởng đó được phổ
biến rộng rãi hơn cả. Tôi có phải hối
tiếc viết lịch sử thời kỳ này
không? Tôi không tin như vậy, sau 40 năm,
tôi phê phán thời đó
tôi mù
quáng không chút khoan nhượng nhưng
cũng không cay đắng. Không khoan
nhượng vì sự thứ lỗi xuất phát từ những
ý định tốt, theo tôi, không
chuộc lại được sự ngu muội và tự phụ. Cũng không
cay đắng vì thái độ
dấn thân khốn kiếp đó đã dạy dỗ
tôi rất nhiều. Tôi ra khỏi cuộc dấn
thân khốn kiếp này mới thấy được phải bắt đầu tra
hỏi về say mê cách
mạng, và được miễn nhiễm không để bị những
ý tưởng mang tính chất tôn
giáo giả mạo thâm nhập trong hành động
chính trị của mình”. (Francois
Furet, Le Passé d'une illusion, Essai sur l'
idée communiste au XXe siècle. Lời
nói đầu, tr 15-16).
Còn những người thuộc tầng lớp cùng đinh trong
xã hội: binh lính, cu
li, trộm cướp đi theo cụ Hồ, cụ Ngô đã được những
chế độ đó đưa lên
hàng tướng tá bộ trưởng, tổng cục, tổng
giám đốc v.v.. làm sao không kể
đến ân tình hiếu nghĩa không phải chỉ
trong xã hội Á đông mà
xã hội nào
ít nhiều cũng cho rằng không thể ăn
cháo đái bát, không thể chửi
những
người, chế độ như thể cha mẹ đã không đẻ ra họ...
vì đạo lý không cho
phép làm như vậy. Phùng
Quán, một nhà thơ nổi tiếng trong nhóm
“Nhân
Văn-Giai phẩm” đã từng bị Đảng đầy đọa,
hành hạ trong nhiều năm trời,
khi được phục hồi cũng sống dở chết dở. Nhà thơ
nói về những khốn khổ
của mình, của bạn bè, đàn anh
mình không oán thù, chỉ cần
mô tả đã gây
xúc động người đọc. Nhưng điều đáng cảm phục hơn
nữa là ông kể lại
chuyện về quê nhà một làng
nghèo cực ở Quảng Trị. Ông nói chuyện
với
thiếu nhi về ca dao và đưa ra nhận định phê
phán thái độ phản phúc, bội
bạc trong bài ca dao về Sen và Bùn
vì làm sao Sen có được mùi
hương, vẻ
đẹp như vậy nếu không nhờ bùn tanh
hôi... Rồi ông được mời ngâm thơ
vì
cả làng hãnh diện có một
nhà thơ nổi tiếng. Ông thú nhận hồi thơ
ấu
trong làng, ông chỉ dám mơ về sau
này được làm thằng mõ là
mãn nguyện
lắm rồi. Nhưng nhờ có Đảng, cách mạng
ông mới trở thành nhà thơ, mặc
dầu Đảng đã làm cho ông và
bạn bè ông thân tàn ma dại...
*
* *
Có một sự kiện thuộc quá khứ của cha anh
mà các thế hệ con cháu bây
giờ
muốn tìm hiểu, là chuyện học tập cải tạo, hay
tù chính trị, sau khi
người cộng sản chiếm được chính quyền. Ở hải ngoại, một số
hồi ký viết
về đề tài này đã xuất bản, nhiều cuốn
bán chạy. Nhưng lại xảy ra trường
hợp vài tác giả thuộc giới nghệ sĩ,
nhà văn tố cáo mạt sát nhau qua
những hồi ký mà họ đã viết. Gần
đây, có tác giả là sĩ quan
quân đội
quốc gia trước 54, ở lại miền Bắc và phải đi học tập cải tạo
sau 54,
viết về các trại cải tạo ở miền Bắc, không
nói về mình mà chỉ nhằm ghi
lại cung cách ở tù của mấy tu sĩ công
giáo mà tác giả không
công giáo
gọi là các thánh tử đạo, và
gửi đăng báo ở hải ngoại. (Xem những bài
có
giới thiệu là Ký của Kiều Duy Vĩnh, đăng trong
tạp chí Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), những số 98,
100 v.v.. (năm 1997).
Rồi một vài cuốn hồi ký khác như Đêm
Giữa Ban Ngày của Vũ
Thư Hiên, hồi ký chính trị của một
người không làm chính trị, (Văn Nghệ
xuất bản, Hoa Kỳ 1997).Sách bán khá
chạy, tái bản nhiều lần, có lẽ
không hẳn chỉ vì kể chuyện ở tù cải
tạo, mà vì tác giả là con
một người
là bí thư ông Hồ, bị tù
trong vụ án gọi là “vụ xét
lại chống Đảng”. Vụ
này đã xảy ra trên 30 năm trước
mà vẫn còn kéo dài cho đến
bây giờ. Tác
giả đã kể những chuyện “thâm cung
bí sử” của giới lãnh đạo
chóp bu của
đảng mà người đọc hải ngoại, đa số gốc miền Nam chỉ nghe đồn
hoặc biết
qua loa... Cũng đã có những phê
phán Vũ Thư Hiên từ những cây
bút tị
nạn gốc miền Bắc hay miền Nam định cư ở Bắc Mỹ.
Tất cả những hồi ký, ký về cải tạo, tù
chính trị do những tác giả chống
cộng gốc miền Nam hay cán bộ, cựu đảng viên gốc
miền Bắc đều nhằm tố
cáo chế độ lao tù và chế độ
chính trị chủ trương chế độ lao tù đó.
Nhưng tại sao những “nạn nhân” của chế độ
lao tù đó lại không đồng ý
được với nhau, thậm chí tố cáo mạt sát
nhau? Vậy những người trẻ thuộc
hàng con cháu, được các tác
giả là cha anh của họ gửi tặng sách, biết
nghe ai, tin ai?
Điều đáng lưu ý là trong số
các tác giả, có cả những người thuộc
giới
nhà tu và chính một tác giả
trong giới này lại bị các nạn nhân đồng
cảnh, không phải những người cầm bút, kết
án.. Đó là cuốn Aka
và Thập giá - ai thắng ai?
của linh mục Phan Phát Huồn (do nxb. Viet Redemptorist
Mission,
California, USA xuất bản,1999) đi trại cải tạo với tư cách
là tuyên úy
quân đội VNCH đồng hoá sĩ quan cấp tá.
Tập hồi ký này có in kèm
theo
những phản ứng của người đọc lúc hồi ký đang
trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp:
có những lời xưng tụng và có cả những
lời sỉ vả. Có thể tác giả nghĩ
rằng đăng lại cả những lời sỉ vả chỉ thêm giá trị
những lời xưng tụng?
Nhưng độc giả bày tỏ những lời sỉ vả tự xưng là
sĩ quan quân đội: “Đối
với linh mục Huồn: “chúng ta biết nhau
quá nhiều” không phải chỉ ở Suối
Máu, các trại kể từ K1 đến K5 mà
còn ở trong quân đội trước 75, có thể
là cấp chỉ huy của linh mục Huồn ở Tổng Tham Mưu,
các phòng tình báo,
an ninh, Chiến Tranh Chính Trị, Quân
Cụ.” v.v...
Những lời nói nặng, sỉ vả không dẫn chứng cụ thể
có thể làm cho người
đọc ít am hiểu thời cuộc trước 75, như giới trẻ, hay những
giáo dân tốt
lành tin tưởng kính mến các cha, nhất
là các cha dòng, cho rằng
đây là
những người ngoại đạo đố kỵ công giáo
bôi xấu đạo, hạ nhục các linh
mục. Tuy nhiên, người đọc vô tư bỏ qua những lời
nói nặng nề, có thể
thắc mắc về hai điều mà những người phê
phán đã nêu lên:
tác giả khoe
những ưu ái trân trọng mà Tổng Thống
miền Nam đã từng dành cho mình.
Tại sao một nhà tu, chuyên lo chuyện phần hồn, lại
được người cầm quyền
phần đời, kể cả người có quyền thế nhất nước phải
vì nể, vì đạo đức
thánh thiện hay vì thế lực chính trị
do quyền hành tôn giáo mà
có?
Những phê phán cũng trách
tác giả bỏ nước ra đi trong khi nhiều tuyên
úy sĩ quan khác ở lại trong nước?.
Tuyên úy quân đội không phải
quân
nhân sĩ quan thực thụ. Tác giả nộp đơn xin xuất
cảnh với danh nghĩa HO
phải chăng như vậy là nhìn nhận những người bắt
tác giả đi học tập cải
tạo và cho phép linh mục xuất ngoại với danh
nghĩa HO đã xử sự đúng
trong việc coi tác giả không phải là
linh mục mà là sĩ quan?
Những bạn đọc Công giáo có thể thắc mắc
về cái tựa sách mà LM Phan
Phát Huồn đặt cho hồi ký: Aka
và Thập Giá, ai thắng ai?. Thắng thua
có ý nghĩa nào đó
trên bình diện nhân loại, nhưng
có ý nghĩa gì không
trên bình diện tôn giáo, đức
tin?
Hồi ký của linh mục Phan Phát Huồn và
của một số sĩ quan, viên chức
chính thể VNCH ở cấp chỉ huy đều xác nhận
đã bị buộc phải thú tội, nhìn
nhận những thất bại của cá nhân, phe
quân đội, hành chánh VNCH,
và còn
buộc phải chào cờ, ca hát hoan hô
các đường lối cách mạng của kẻ thắng
trận như điều kiện học tập cải tạo tốt để được ra khỏi trại...
Ý định
hạ nhục được đẩy đến cực độ trong chính sách
dùng người ít học, nói
ngọng hay phát âm theo giọng địa phương
làm cán bộ quản lý trại, những
người mà bây giờ một vài tác
giả hồi ký cải tạo tỏ ý khinh thường,
nhưng không hiểu họ có dám
bày tỏ thái độ khinh bỉ công khai thời
ở
trong trại “cải tạo” hay không? Rất nhiều
người đi học tập cải tạo sau
này ra nước ngoài theo diện bảo lãnh
hay HO vẫn giữ yên lặng, phải
chăng chỉ vì họ còn biết giữ một chút
liêm sỉ?
Độc giả hải ngoại công giáo hay ngoài
công giáo đọc mấy bài của Kiều Duy Vĩnh
nhắc tới ở trên và đặc biệt cuốn: Năm
chiếc bánh và hai con cá của
T.G.M Nguyễn Văn Thuận mà tôi có giới
thiệu trong tạp chí Đi Tới,
Montreal, số tháng 1, 1999. Sách có
nhắc lại kỷ niệm thời ở tù 13 năm,
nhưng chúng ta không thể không nhận ra
cung cách ứng xử khác hẳn của
nhà tu này so với cung cách của linh
mục Phan Phát Huồn và thắc mắc tự
hỏi tại sao cũng là một nhà tu theo cũng một
tôn giáo lại có những cách
ứng xử trái ngược nhau như vậy?
Thực ra, tôi biết nhiều trường hợp các
nhà tu Công giáo hay Phật
giáo,
trong chỗ riêng tư, đều nhìn nhận thời gian học
tập cải tạo hay ở tù
chính trị như một thử thách giúp họ
trở lại với tinh thần tôn giáo, lý
tưởng tu trì mà trước đó họ
đã ít nhiều xa rời, thậm chí phản bội
nữa,
nhất là những kẻ có quyền hành đạo
đời. Do đó họ coi học tập cải tạo, ở
tù như một hồng ân Thiên Chúa
ban cho họ để tu tỉnh lại. Một người bạn
già từng làm Giám đốc công
an một tỉnh Bắc Việt trước 54, di cư vào Nam
và sau 75 đi tù cùng thời gian với
tôi, viết cho tôi:
“Nhận
được thư anh, tôi ngạc nhiên, sửng sốt
và cảm động như ngày 8-2-1988
tôi nhận được lệnh tha của Công An. Thật vậy
tôi không ngờ anh còn sống
và được ra nước ngoài như thư anh viết. Kỳ ở
Chí Hòa, tôi được Võ Long
Triều cho biết anh đã về chầu Chúa. Khi ra khỏi
tù tôi cũng không nghĩ
đến liên lạc anh cũng vì lý do
trên...
“Tóm lại, tôi không
oán hận gì trong những năm bị cấm cố
vì xét theo
một khía cạnh nào đó, nhất
là khía cạnh đức tin thì thời gian ở
tù là
một dịp để đền tội và sống đức tin một cách
sâu sắc, đầy đủ hơn những
năm tháng hoạt động tông đồ trước ngày
Saigon mất. Đại khái, đã từng
làm luật sư mình mới thấm thía những
khẩu hiệu: “An toàn pháp
định” và
hiểu thế nào là tù cấm cố
(réclusion). Chính ra chế độ học tập cải tạo
bằng lao động còn dễ chịu và đỡ tổn hại thần kinh
hơn chế độ cấm cố,
quanh năm ngày tháng, giam kín trong 4
bức tường mà anh cũng có dịp thử
nghiệm ở đường Trần Hưng Đạo” (Sở C.A. Thành Phố,
trước 75 là nha Cảnh
Sát Đô Thành –chú
thích của NVT). Nhớ viết thư cho tôi vì
tôi cũng có
đôi chút hiểu biết về tình trạng Việt
kiều ở Mỹ. Chính tình trạng này
cũng làm tôi bị déprimé
vì đồng bào hay đúng hơn những người
làm chính trị ở miền Nam di dân
qua Mỹ còn bị quá nhiều chia rẽ và lẩn
quẩn với hận thù. Trong hoàn
cảnh như thế, khó mà làm được việc
gì ích quốc lợi dân và
đóng góp cho
tương lai Việt Nam. Lơ mơ còn bị chụp mũ đủ thứ
và có khi bị ăn cả đạn
nữa. (thư riêng, viết ngày 19-04-1994).
Trước khi ra khỏi
tù về nhà, tôi có
cám ơn người thẩm vấn tôi, gọi là
trưởng phòng chấp
pháp (ông là người đã hỏi
cung hầu hết trí thức, bác sĩ, kỹ sư,
giáo sư
và các nhà tu hành
Công giáo, Phật giáo bị bắt trong những
năm đầu sau
75), cám ơn về thời gian ở sở C.A. Lúc
đó ông không hiểu được ý của
tôi; chỉ về sau khi về hưu chúng tôi hay
gặp nhau, lại nghe ông tâm sự
kể những đau buồn ảo tưởng của một đảng viên
(“đâu có ngờ đến tình
trạng hiện nay”), tôi nói ông
mới hiểu.
Tôi cũng biên thư cho mấy trí thức
giáo sư Pháp đã can thiệp cho
tôi,
chỉ xin nói tên một người: giáo sư
Laurent Schawtz đồng chủ tịch tòa án
Russell với J.P. Sartre, để cám ơn sự can thiệp của
các vị đó, do một
người bạn ở Paris cho biết, mà tôi không
rõ các vị đó can thiệp thế
nào, với ai. Tôi nói với các
vị đó: thời gian ở tù là một tĩnh
tâm tốt
nhất trong đời tôi. Có khi ba tuần, một
tháng bị giam trong một
“cachot” lờ mờ không rõ
ngày đêm, chỉ mong được gọi đi thẩm vấn,
vì như
vậy là được ra ngoài nhìn thấy
ánh nắng, cảm thấy gió thổi, thở khí
trời và nhìn thấy người, là những điều
bình thường nhưng chỉ thấy quý
khi mất... Những ai quen nếp sống hoạt động có thể đập đầu
vào tường tự
sát vì không chịu nổi tình
trạng không được tiếp xúc, giao thiệp. Người
ta thường sợ phải nhìn vào mình, nhất
là để phản tỉnh tự kiểm điểm, và
như vậy hoạt động giao thiệp chẳng qua là một
cách để trốn lánh không
phải nhìn vào mình, hay nói
theo Pascal, là một thứ
“divertissement”.
Nhưng một người quen suy tưởng, ít nhiều có đời
sống nội tâm lại coi
tình cảnh ở tù một mình là
dịp hiếm hoi để nhìn lại toàn bộ cuộc đời
của mình, đối diện với lương tâm và
trước mặt Chúa mà không cảm thấy
cần tự biện hộ, vì nghĩ rằng có thể
không bao giờ ra khỏi nơi đây, hoặc
chỉ ra khỏi nơi đây khi đã ra khỏi đời
này...
Trong tình cảnh đó, dễ dàng nhận ra
những gì mình đã nhân danh
gọi là
lý tưởng này nọ đôi khi chỉ che giấu
những động cơ, mục tiêu cá nhân:
Hám danh lợi quyền lực, muốn được xung tụng trọng vọng...
Đồng thời
thấy được phán đoán phê phán
người khác, dù đúng ở một
khía cạnh nào
đó, xét về toàn diện con người như một
huyền nhiệm, vẫn là hẹp hòi sai
lầm. Ngoài ra cũng nhận ra những khía cạnh
tích cực, những ưu điểm ở
nơi người bị phê phán... Sau cùng dễ
dàng nhìn nhận những lỗi lầm, sai
trái của mình và đảm nhận
trách nhiệm về phần mình trong những sai
trái
lỗi lầm ở nơi người khác...
Sau khi ra tù, tôi được biết mấy linh mục quen
thân và hai sinh viên cũ
tố cáo tôi, dẫn đến việc tôi bị
tù. Thoạt nghe không khỏi buồn bã chua
xót vì những linh mục đó là
những người bạn đường, hoặc đàn em tôi
đã
nâng đỡ, xin Nha động viên hoãn dịch,
chấm đỗ cao học mặc dầu các giám
khảo khác chống đối họ vì lập trường
chính trị, và đưa họ vào ban giảng
huấn đại học. Nhìn lại mình, tự kiểm điểm
cách đối xử của tôi trước đây
thế nào, và tôi nhận ra những sai
trái của một lối hành xử: cho là một
cách khống chế (donner c'est asservir). Sau 75, họ
tìm cách tách khỏi
tôi như thể không dính dáng
gì với tôi, và đã tố
cáo tôi. Tôi quyết
định đi gặp họ để xin lỗi họ... Tha thứ và xin tha thứ quả
thật rất
khó, không đơn giản chút nào
vì tha thứ và được tha thứ không phải
chỉ
là trả một món nợ mà chính
là phục hồi một quá khứ.
Phải nhớ lại những lời nói việc làm
nào đã gây tổn thương, xúc
phạm
người khác, phải tìm hiểu tại sao và
trong hành trình ngược thời gian
phải tìm hiểu, đôi khi đụng đến cái
không thể phục hồi được. Không thể
đền bù được và do đó không
thể tha thứ được... những con người, thể chế
chính trị xã hội nạn nhân của những
phê phán đả kích một cách
oan uổng,
bất công đã chết hoặc không
còn tồn tại nữa. Tuy người chết không thể
làm sống lại, một chế độ đã qua không
thể phục hồi, nhưng vẫn có thể
thay đổi những ý nghĩa đã gán cho
quá khứ và chính nhu cầu thay đổi
ý
nghĩa đưa tới đòi hỏi tha thứ và xin tha thứ. Tha
thứ và xin tha thứ
không xoá bỏ quá khứ mà chỉ
gán cho quá khứ những ý nghĩa
khác thể hiện
một giải thoát làm cho tâm hồn được
thanh thản....
Bây giờ, nhìn lại những chặng đường đã
qua ở tuổi 70, tôi thấy vẫn phải bắt đầu bằng quá
trình tha thứ và được tha thứ.
*
**
Tôi có một bản thảo về ngôn ngữ
và văn học dân gian [2] gặp rắc rối
trong nước nên chưa xuất bản được. Ra hải ngoại,
tôi đưa cho Nguyễn
Mộng Giác, lại gặp rắc rối về những lý do
tôn giáo không phải liên quan
đến chính bản thảo, mà đến cá
nhân tôi. Đã xảy ra một hiểu lầm
làm cho
Nguyễn Mộng Giác “đoạn tuyệt” với
tôi. Sư kiện này buộc tôi phải
nhìn
lại toàn bộ những liên hệ của tôi với
Phật giáo trước và sau 1975 để
tìm hiểu tại sao có những đố kỵ ác cảm
với tôi, mặc dầu tôi có những
quan hệ thân tình với nhiều vị lãnh đạo
Phật giáo như HT Trí Quang.
Cuối cùng tôi nhận ra rằng, đối với một số dư luận
Phật giáo, đặc biệt
ở những người hẹp hòi hay đầy mặc cảm, tôi
không thể được tách rời ra
khỏi giới Công giáo và những chế độ
chính trị ở miền Nam trước 75, đặc
biệt thời Đệ Nhất Cộng Hòa, nghĩa là
tôi không được tách ra khỏi những
uất ức oán giận bất mãn đối với người
Công giáo và những chế độ
chính
trị được coi như những chế độ Công giáo;
và vì thế tôi phải nhận lãnh
trách nhiệm liên đới về phía
Công giáo. Mang tâm nguyện tha thứ những
ngộ nhận, xuyên tạc vu khống và xin được tha thứ,
tôi đã viết thư xin
lỗi Nguyễn Mộng Giác và đã được trả
lời. Trao đổi thư từ giữa tôi và
Nguyễn Mộng Giác đã đem lại cho tôi một
thanh thản tâm hồn, một niềm
vui vì một mối bất hòa đã được giải
tỏa. Tôi nghĩ rằng sau khi tôi viết
về vấn đề này và xin lỗi những người Phật
giáo đố kỵ vì một số lời nói
bài viết của tôi đã gây phiền
lòng, bất kể đúng hay sai, tôi cũng sẽ
được thanh thản, và niềm vui lớn hơn nữa.
Đối với giới Công giáo ở hải ngoại, tôi
cũng gặp rắc rối. Sự kiện ra
nước ngoài hay đi đây đó (Hoa Kỳ, VN)
tạo ra nghi ngờ là tôi được “cử
đi công tác trí vận”,
vì tôi không đi làm,
không hưởng trợ cấp nào, tại
sao có tiền mà đi?
Sự nghi ngờ tăng thêm khi tờ Tin Nhà
ở Paris ấn hành một phụ bản Về Cuộc Đối Thoại
Dân Chủ. Lữ Phương - Nguyễn Kiến Giang và Nguyễn
Văn Trung
(1995), nêu nhiều nghi vấn về tư cách
chính trị của tôi. Theo chỗ tôi
biết, không có nhiều phản ứng ở báo
chí bên Mỹ. Tôi được đọc một
bài ký
bút hiệu của độc giả gửi báo Văn Nghệ
Tiền Phong mà ông chủ bút
cho tôi biết trước sẽ đăng để bán báo.
Bài báo mạt sát tôi một
cách hạ
cấp và nhầm lẫn một cách tai hại giữa một người
tên là Nguyễn Kiến
Giang, một đảng viên dính líu
vào vụ án “chống xét
lại” ở miền Bắc, với
Nguyễn Kiên Giang, tác giả viết kịch cải lương ở
miền Nam. Có lẽ vì vậy
không gây được tranh luận kẻ bênh người
chống như tờ báo mong muốn. Sau
đó, Đức Ông Hoài, phụ trách
Phong Trào Giáo Dân ở hải ngoại, một
chức
vụ do Roma đặt ra, viết Tâm Thư trong đó
có nhắc đến tôi, khẳng định
tôi được cộng sản sai đi. Tâm Thư chỉ phổ biến
trong nội bộ Công giáo.
Người Công giáo đi hồi 75 chỉ nghe tiếng
tôi là người hay phê phán, đả
kích giáo hội, đặc biệt về hai điều:
Liên hệ với chế độ thực dân và mất
gốc về văn hoá, sau được những người ngoài
Công giáo như Trần Văn Giàu,
Nhất Hạnh dựa vào đó mà phê
phán Công giáo, nhưng lại
không biết gì về
thời gian sau năm 75 tôi đã thay đổi lối
nhìn. Trước 75 tôi hay đặt vấn
đề “Dân tộc cho người Công
giáo”, bây giờ tôi cho rằng
đến lúc đặt vấn
đề “Công giáo đặt cho Dân
tộc”. Lối đặt vấn đề như thế đã có
tác động
trong giới trí thức đảng viên.... Trong tập
“Nhìn lại những chặng đường
đã qua” này tôi sẽ
trình bày diễn tiến những quan niệm của
tôi về vấn
đề Công giáo đặt ra thế nào trước
và sau 75 và chắc dư luận công
giáo
hải ngoại sẽ hiểu rõ tôi hơn. Duy có
trường hợp mối bất hòa giữa Nguyễn
Ngọc Lan và tôi có thể đã
là nguồn gốc việc ra phụ bản Tin Nhà
và -phần nào- Tâm Thư Đức Ông
Hoài. Hồi 1992, anh Nguyễn Ngọc Lan viết
bài phê phán tôi, sau nhiều
bạn cũ của anh. Tôi đáp lại, nhưng bài
này
chỉ phổ biến thật giới hạn trong chỗ bạn bè gần gũi. Nhưng
sau khi tôi
ra nước ngoài ai đó đã biên
tập lại bài tôi viết, bỏ một số đoạn, đem
in và phổ biến rộng rãi trong các họ
đạo, ngoài ý muốn của tôi. Điều
quan trọng ở đây không phải là ai phải
ai trái, mà những người quen
biết cả hai chúng tôi không vui
gì về mối bất hòa này, nên
tôi quyết
định viết thư xin lỗi anh Lan. Anh Lan đã đáp lại
mau chóng và tôi thật
hân hoan về sự hòa giải này,
nên cũng xin phép anh Nguyễn Ngọc Lan sẽ
cho phổ biến thư anh để bạn bè quen biết chia sẻ với
tôi niềm hân hoan
và những ai lợi dụng mối bất hòa này
không còn có thể lợi dụng.
*
* *
Sau cùng xin nhắc đến một lá thư gửi cho
tôi trong một hoàn cảnh thật
đặc biệt để tôi nhìn lại những chặng đường dạy học
và biên khảo nghiên
cứu của tôi.
Đây là bài viết của một thí
sinh kỳ thi ban Triết ở Đại Học niên khoá
1969 về đề tài: “Phê bình
huyền thoại phải chăng không tránh được dựa
trên huyền thoại phê bình?”.
Thay vì làm bài, thí sinh
đã để 4 giờ viết
thư cho tôi, và, qua tôi, cho
các đàn anh bày tỏ tâm sự
của tuổi trẻ
trước thời cuộc đưa anh tới quyết định bỏ thi, mặc dầu thi đậu
là một
điều kiện hoãn dịch... Tôi đưa cho mấy
giáo sư giám khảo đọc, chúng
tôi
đều cảm phục tư cách, thái độ can đảm của anh.
Riêng tôi muốn chấm cho
anh đậu cao, nhưng có vị khác không
tán thành vì bài vượt ra
khỏi nội
qui trường thi. Cuối cùng mọi người đồng ý
không cho điểm và tôn trọng
sự lựa chọn của thí sinh. Tôi chụp sao lại một bản
in giữ làm kỷ niệm,
và sau 30 năm, phổ biến, trả lời công khai
tác giả, không rõ còn sống
hay đã chết, ở Việt Nam hay định cư ở nước ngoài.
Tôi muốn tâm sự với
tác giả về những ý nghĩ của tôi hồi
đó (trước 75) và sau 75.
Trước 75, tôi đã viết nhiều bài, in
sách phê phán tố cáo chế độ
giáo
dục ở miền Nam Việt Nam mà tôi gọi là
“nỗi buồn đại học”, và chế độ
chính trị xã hội miền Nam mà
tôi gọi là “nỗi buồn chiến
tranh”, “nỗi
buồn nhược tiểu”. Những phê phán
này hoặc chỉ ở mức độ đòi thay đổi một
đường lối, chính sách, hoặc triệt để hơn thay đổi
cả chế độ... Thời đó,
tôi chỉ nhìn thấy những thiếu sót, sai
trái, yếu kém của miền Nam, thể
chế Việt Nam Cộng Hòa... Tóm lại, chỉ thấy
toàn màu đen...
Sau 75, chế độ miền Nam (được gọi là “chế độ Mỹ
Ngụy”, “vùng tạm
chiếm”) không còn nữa. Tôi dần
dần nhận diện lại những khuôn mặt của
chế độ đó, và mới thấy những cái hay,
tích cực của nó mà trước 75
tôi
đã không lưu ý vì
đó là những cái bình thường
của nếp sống hằng ngày,
sinh hoạt giảng dạy, văn hoá.... Trớ trêu hơn nữa
chính người miền Bắc
mới vào nêu thắc mắc, nhắc nhở tôi nhận
diện lại. Chẳng hạn đối với
người miền Nam, cầu xa lộ Biên Hòa trước khi
vào Saigon vẫn chỉ là cái
cầu, nhưng đối với người từ miền Bắc vào lại nhận thấy
không phải cái
cầu mà vẫn là con đường nối dài. Hoặc
tại sao miền Nam lại lưu tâm giải
quyết nhu cầu hằng ngày như đi vệ sinh một cách
chu đáo đến thế khi họ
thấy và được dùng những cuộn băng mang
nhãn hiệu “Kiss me” trắng tinh
vẫn còn bày bán trên vỉa
hè Sài Gòn sau ngày
30/04/75. Những nền nếp
sinh hoạt đại học, cách tuyển mộ nhân
viên giảng huấn, giảng dạy, thi
cử, trước 1975 nay bị xoá bỏ được thay thế bằng những lề lối
trái hẳn
truyền thống đại học của thế giới. Lúc này
tôi mới cảm nhận được ý
nghĩa, giá trị của những nền nếp đại học trước 1975. Tuy
nhiên, phải
nói ngay là không phải những
gì đã phê phán trước 1975
là sai trái cả.
Nhưng cái sai trái, thiếu sót
là đã không nhận ra những
cái tích cực ưu
điểm tựa mầu hồng, mầu trắng của chế độ giáo dục
xã hội miền Nam trước
75.
Điều ngày này tôi nhận ra là
nhiều nếp sống mang nhiều ý nghĩa giá trị
xã hội đạo đức bị lợi dụng nhằm mục đích lật đổ
chế độ miền Nam, và
những người dễ để cho bị lợi dụng thực ra cũng có
trách nhiệm sự lợi
dụng đó về phần mình. Chỉ xin nêu hai
trường hợp:
1. Tự trị Đại Học. Miền Nam
trước 75, ít nhiều thực hiện
được cái mà bây giờ gọi là
“xã hội công dân”
(Société civile) nghĩa là
một mảng sinh hoạt do chính giới liên hệ tự quản
lý như các hội bác sĩ,
luật sư, hay tự trị đại học của giới đại học. Phong trào
tranh đấu đô
thị của sinh viên do Thành Đoàn
lãnh đạo thành lập Phong Trào Tự Trị
Đại Học, núp sau một nếp sống dân chủ, bị coi
là “chiêu bài” để
che
giấu, biện minh những hoạt động chống đối chính quyền, đặc
biệt chống
đối quân dịch. Cảnh sát có thể
đàn áp ở ngoài đường phố, nhưng
không
thể trong khuôn viên đại học. Sinh viên
vẫn có quyền treo biểu ngữ, hô
khẩu hiệu, biểu tình mà cảnh sát
không dám can thiệp vì giáo
sư, khoa
trưởng đồng tình “bảo vệ Tự Trị Đại
Học”. Sau 75, người tiếp quản dạy
học Văn Khoa, thắc mắc hỏi tôi tại sao lại Tự Trị Đại Học?
Năm 1992
Trung Tâm nghiên cứu Châu Á
Thái Bình Dương, trong Đại Học Sư Phạm
TpHCM tổ chức hội thảo, đề nghị tôi viết về Tự Trị Đại Học
trước 75.
Bài này đã không được đọc
trong khoá hội thảo và Hà Nội cho
người vào
điều tra vì nghi ngờ có một mưu đồ gì
đây.
2. Lựa chọn trung thành với đạo
lý hơn bảo vệ một lập trường chính trị.
Sau 75, một buổi họp thân hữu nhóm sinh
viên tranh đấu được tổ chức ở
nhà Bé Ký Hồ Thành Đức. Anh
B hỏi tôi có gặp mấy bạn học của anh gần
đây không. Rồi anh khoe: hồi tụi em hoạt động nội
thành, đi qua khu
canh gác giữ an ninh của mấy bạn học đó, họ hỏi
thăm rồi nói: thôi tụi
bay đi chỗ khác, không bắt tụi em. Tôi
hỏi lại anh: Nếu bây giờ mấy anh
bạn đó hoạt động chống đối đi qua khu vực anh giữ an ninh,
anh có bắt
không?
- Bắt chứ. Ngay cả trong hàng ngũ tướng tá, cũng
có trường hợp bao che
cho những người nằm vùng vì là họ
hàng ruột thịt. Cách mạng Việt Nam là
bậc thầy của sách lược Lêninít
vì đã bổ sung cho nó một yếu tố mới:
Vận
dụng những tình cảm gia đình, quan hệ vợ chồng,
bạn bè v.v. phục vụ
những mục tiêu tranh đấu cách mạng. Do
đó những người nằm vùng có thể
hoạt động công khai, ít ra đối với những người
quen thân mà không sợ bị
tố cáo. Như vậy, chế độ chính trị miền Nam thua
phải chăng cũng còn vì
lý do thuộc đạo lý: Lựa chọn trung
thành với những giá trị đạo lý hơn
bảo vệ một lập trường chính trị? Nhưng có người
như ông Ngô Đình Cẩn
bất chấp đạo lý, pháp lý, lựa chọn
hiệu nghiệm chính trị dùng khủng bố
“bạo lực phản cách mạng” để chống lại
khủng bố bạo lực cách mạng của
người cộng sản. Ở miền Trung nhiều thanh niên trước khi tập
kết ra Bắc
được khuyến cáo lập gia đình, nhưng để vợ lại
miền Nam. Sau đó, người
chồng chưa về được gửi gắm bạn bè xâm nhập từ Bắc
vào cho vợ, yêu cầu
người vợ giúp đỡ bạn như giúp mình.
Ông Cẩn buộc những người vợ có
chồng tập kết phải ly dị, lấy người khác. Hồi 1957-1960
tôi đang dạy
học ở Huế, thường về Saigon bằng xe hỏa chạy ban đêm thật an
ninh. Chỉ
sau này, quãng 1992 được đọc tài liệu
của nhóm tình báo chiến lược cựu
tù nhân của ông Cẩn ca tụng những
“thành tích chống cộng tuyệt vời của
Ngô Đình Cẩn”, tôi mới hiểu
tại sao hồi đó ở miền Nam có an ninh ổn
định. Nhưng ông Cẩn bị Tòa Án miền Nam
kết án tử hình vì những vi phạm
pháp lý của ông. Bây giờ, nếu
tòa án đó xử lại, mà
nhân chứng, luật sư
là những người lãnh đạo cách mạng, cựu
tù nhân của kẻ bị cáo, thì
sẽ
phán quyết ra sao?
Qua hai trường hợp tôi vừa nhắc ở trên, sau 30 năm,
tôi muốn ngỏ đôi
lời với tác giả lá thư gửi đàn anh
viết thay vì làm bài thi. Hồi
đó,
đọc lá thư có gây xúc động
và làm cho tôi cảm phục anh,
không phải vì
anh phê phán đả kích Mỹ, chế độ miền
Nam, vì đó là điều bình
thường
trong tình thế thời đó; không phải
mình anh đã làm như thế.
Báo chí
miền Nam công khai gọi đại sứ Mỹ Bunker là
“ông già tủ lạnh”,
“quan
thái thú Giao Chỉ”, sự can thiệp của
người Mỹ là do bàn tay lông
lá của
họ. Tôi nhớ Phan Nhật Nam trong một ký chiến
trường có thuật lại: ông
đã điện đàm với một chính uỷ
phía bên kia, đề nghị ông
chính uỷ đả kích
Liên Xô, Trung Quốc sau khi nghe ông đả
kích Hoa Kỳ. Ông chính uỷ
không
đáp lại đề nghị của Phan Nhật Nam. Tôi cũng
không thấy cần phải đặt vấn
đề “cảm phục” Phan Nhật Nam và
“chê trách” ông
chính uỷ nọ. Đây không
phải vấn đề tư cách thuộc đạo lý mà
là vấn đề thế chế chính trị khác
biệt. Khung cảnh văn hoá xã hội của miền Nam
trước 75 đã để cho những
người cầm bút có thể phê
phán, đả kích công khai những người cầm
quyền
và đồng minh, còn thể chế của miền Bắc
thì không. Sau 75, tôi phục Phan
Nhật Nam vì thái độ cương quyết từ chối gặp
và nhận bảo lãnh của người
cha đứng ở phía bên kia trong thời gian
nhà văn học tập cải tạo.
Trở lại với tác giả lá thư viết trong
phòng thi kia, sở sĩ tôi cảm phục
anh là vì anh đã can đảm quyết
tâm từ chối một ưu đãi dành cho một số
thanh niên trí thức (có tú
tài học đại học) được hoãn dịch nếu thi
đậu.... Sau 1975, nếu anh còn sống, ở lại miền Nam, nhớ lại
hành động
của mình đã chửi Mỹ, chế độ miền Nam, chửi cộng
sản trong bài thi, chắc
hẳn anh nhận ra lúc anh viết, anh chỉ nghĩ đến những
gì anh muốn nói,
mà không hề băn khoăn dè dặt e ngại sẽ
gặp phiền hà gì về chính trị.
Tôi và mấy giáo sư giám khảo
đọc bài của anh cũng có tâm trạng tương
tự: không thấy e ngại liên lụy gì về
thái độ của anh, v à đã
không làm
cái việc là báo cáo sự kiện
đã xảy ra... Nhưng sau 75 liệu anh có
dám
làm như thế không và chúng
tôi có dám “bỏ qua”
việc làm của anh không?
Chắc anh có đọc ít nhiều những gì
tôi đã viết. Thời gian trước 75, tôi
đã có hàng chục cuốn sách
xuất bản, đầy những phê phán chế độ người Mỹ
can thiệp vào miền Nam, nghĩa là tôi
cũng đã “hưởng ít nhiều tự do ăn
nói, phê phán” của chế độ
chính trị miền Nam thời đó. Ngoài ra,
tôi còn
giảng dạy một lớp về Marx trong nhiều năm ở ban triết trường đại học
Văn Khoa. dĩ nhiên trong tinh thần nghiên cứu đại
học và cũng chỉ giới
hạn vào việc giới thiệu, hành trình
của Marx, đặc biệt thời trẻ tuổi.
Tôi không gặp một rắc rối nào về
phía chính quyền, hay ngay cả một phê
phán tố cáo của một người cầm bút
nào đó trong việc giảng dạy. Đem đi
kiểm duyệt để xuất bản, cuốn viết về cuộc đời Marx được in
còn cuốn Nhận diện Marx
thì không. Nhiều bài khác
liên hệ đến cộng sản, có bài bị kiểm
duyệt bỏ
một số trang, có bài bị bỏ nguyên cả
bài, đều được ghi nhận trong sách
là bị kiểm duyệt bỏ. Những tác giả
khác cũng làm tương tự. Ít ai lo
ngại tối nay có người đến nhà hỏi thăm sức khoẻ
hay nhận được giấy của
phòng an ninh chính trị kêu đi
làm việc...
Chế độ chính trị xã hội miền Nam trước 75
phân biệt đời công với đời
tư, tôn trọng tự do trong lãnh vụ đời tư
và ít nhiều tôn trọng tự do
trong lãnh vực đời công ngay cả về
chính trị. Chủ trương như thế không
phải không có ngụ ý chính
trị, trước mắt hay về lâu về dài. Chẳng hạn
để chứng tỏ miền Nam có tự do, miền Bắc thì
không; hoặc để tạo cho dân
chúng, đặc biệt giới trí thức, ngay cả
thân cộng hay theo cộng sản nếp
sống dị ứng với những thể chế áp đặt một chiều, rập
khuôn. Điều này đã
được thể nghiệm sau 75, còn đối với những sinh
viên trí thức ra khu, ra
Hà Nội, nó đã được thể nghiệm sau biến
cố Mậu Thân 1968 như một số đã
tâm sự với tôi sau 1975.
Tuy nhiên những chủ trương để cho ăn nói
ít nhiều tự do, phê phán chỉ
thuộc về phương thức thực hiện, không phải về bản chất chế
độ. Đúng là
một thứ chuyên chính tư bản. Chuyên
chính tư bản chỉ khác chuyên
chính
vô sản về phương thức thực hiện, không phải về bản
chất. Sau 75, nếu
anh ở lại miền Nam, chúng ta đã được nghe
nói nhiều về luận điệu chuyên
chính tư sản, nhưng chúng ta ít được
thuyết ph&