Nhìn lại những chặng đường đã qua
Nguyễn Văn
Trung
1 2 3 4 5 6 7 8
V
Văn hoá văn nghệ trong vòng tay chính trị
Nguyễn Văn Trung
“…
tôi sống một đời sống ít nhiều khắc khổ, một cách ý thức tự nguyện,
không nghiện rượu, thuốc lá, cà phê, chỉ nghiện hay say mê một thứ: cầm
bút viết …”
Trên lãnh vực văn học, tôi cũng bị phê
bình, đả kích, mạt sát, chửi rủa thậm tệ. Nhìn lại những hoạt động cầm
bút của tôi và phản ứng của những người từ phê bình đến chửi rủa thậm
tệ, tôi lưu ý những «hoàn cảnh viết” tùy thời điểm, thời kỳ dựa trên
phân biệt quốc gia hay cộng sản, và những cái mốc trong nội bộ miền Nam
Việt Nam thời đệ nhất cộng hòa (chế độ ông Ngô Đình Diệm) và thời đệ
nhị cộng hòa (sau khi đảo chính ông Diệm). Trong hai thời kỳ đó, một
mặt tôi Trình Bầy đường lối khả năng chính trị của các chính quyền miền
Nam, mặt khác tôi cũng nói đến khả năng chống phá của người Cộng sản
“trong lòng địch”.
Về thời đệ nhất cộng hòa, chế độ ông Diệm là một thứ “chuyên chính tư
sản” so sánh với “chuyên chính vô sản” của miền Bắc. Trong chế độ
chuyên chính kiểu tư sản này, người cầm bút được tự do nói bất cứ cái
gì, miễn là phi chính trị, không đụng đến chính chế độ và một số lãnh
tụ thuộc gia đình ông Diệm. Từ ngữ “mật vụ” được dùng trong thời kỳ này
biểu lộ một tâm lý dè dặt sợ sệt của người dân, người cầm bút. Chỉ sau
1963, người cầm bút mới được tự do “múa bút” nhiều hơn, như Chu Tử, Từ
Chung đã nhìn nhận trong “Hiệu triệu gửi nhà văn nhà báo” chào mừng
cách mạng thành công, quân đội đã đứng lên quật ngã chế độ độc tài gia
đình trị Ngô Đình Diệm. “Mang danh là những người cầm bút chiến đấu cho
tự do dân chủ, và giải phóng con người, vậy mà trong thời gian vừa qua,
vì cơm áo, vì khiếp nhược đốn hèn, chúng ta đã nhắm mắt ăn dơ, đánh đĩ
tâm hồn, phản bội sự thật, phản bội dân tộc, cam tâm làm gia nô cho bè
lũ họ Ngô. Quân đội đã đứng lên làm nhiệm vụ, giành cơ hội duy nhất để
thoát khỏi cảnh bồi bút, phi cầm thú”...
Những người hoạt động chống phá “trong lòng địch” cũng thú nhận những
hạn chế của mình. Để đánh dấu 10 năm “Giải phóng miền Nam”, Thành đoàn
thanh niên Cộng sản thành phố Hồ Chí Minh xuất bản một tập ký sự truyền
thống thành đoàn: Trui rèn trong lửa đỏ(Nhà
xuất bản Văn Nghệ Thành Phố, 1985). Tập ký dày gần
400 trang, ghi
lại những thành tích của thành đoàn. Chương
1và chương 2 nói về giai
đoạn đấu tranh “trong lòng địch”, từ 1950 đến 1963,
chỉ vỏn vẹn có 42
trang và phần còn lại kể những hoạt động của thành
đoàn chủ yếu trong
giới trẻ trí thức sinh viên học sinh đô thị
thành lập công khai những
phong trào gọi là những “phong trào tranh
đấu trên mặt trận văn hóa
trong lòng địch”. Thời ông Diệm, những hoạt động vận
động quần chúng bị
hạn chế và chỉ phát huy những âm mưu khủng bố,
ám sát các nhân vật
chính trị Mỷ Việt, như ám sát hụt đại sứ Mỷ
Nolting. “Không như thời
Pháp, Diệm nắm chặt và nắm kỹ tay sai, những tờ
báo phản động hồi ấy
thường đăng hình ảnh chiến sĩ ta có vẻ nanh ác bị
bắn với tấm bảng treo
cổ: “Việt Cộng”. Phụ trang báo ảnh cho thanh thiếu
niên đầy tranh vẽ
Việt Cộng mắt sâu, cằm bạnh tìm giết trẻ em. Cái
gì xinh tươi, đẹp đẻ
thuộc về “bảo an”, “quân đội cộng
hòa”, “công dân vụ”. Sân
khấu, phim
ảnh tiểu thuyết cũng vậy. “Quốc gia” đối diện “Cộng
sản” và quốc gia
bao giờ củng thắng, đẹp”. Thời ấy sự chỉ đạo của nội tuyến thường
bị
gián đoạn chưa chặt chẽ, chúng ta hoạt động theo hiểu
biết hạn hẹp,
theo cảm tình nhiều hơn”. (Sđd, trang 291).
“Ở quê tôi, bọn ác ôn đem đầu những người kháng chiến treo tòn ten lên
những hàng cây gôn trên con đường cái làng. Bọn chúng treo như vậy rất
lâu, để thối rữa ra, nói là biểu dương chiến thắng của quân đội cộng
hòa”, (trang 30). Đối diện với chính sách “khủng bố cách mạng”, chế độ
ông Diệm, cụ thể là ông Ngô đình Cẩn, sử dụng chính sách khủng bố chống
cách mạng (xem chương 6), nên thật dễ hiểu, tình hình an ninh được đảm
bảo rõ hơn thời ông Diệm vì mấy ai dám hoạt động, tuyên truyền có lợi
cho Cộng sản.
Thời đệ nhất cộng hòa, tôi
chỉ viết báo liên quan đến tôn giáo, triết
học, văn học, không đụng đến thời cuộc chính trị.
Nói cách khác, thời
kì này tôi chủ trương một thứ triết học, văn học
trong thư phòng. Chỉ
sau 1963, tôi mới viết về chính trị thời cuộc, đưa triết
học văn học
xuống đường gọi là “dấn thân”. Trong 9 năm
thời ông Diệm, tôi là đối
tượng của nhiều phê phán trong giới cầm bút, nhưng
không có đả kích,
mạt sát, chụp mũ; cùng lắm chỉ nhận định những gì
tôi viết một cách
khách quan biện hộ hay có lợi cho Cộng sản. Chẳng hạn
nhật báo Tự Do,
để cả tháng trời liên tiếp phê phán
bài diễn thuyết của tôi về Phạm
Quỳnh; rồi nhiều tạp chí văn học hưởng ứng phê phán
tôi, chỉ nói: phê
phán Phạm Quỳnh là gián tiếp đồng loã với
Việt Minh khi họ giết Phạm
Quỳnh; hoặc trong cuộc trao đổi tranh luận giữa tôi và
nhóm Văn Đàn về
“văn học và luân lý”. Nhân một
bữa nói chuyện khác của tôi về đề tài
này, nhóm Văn Đàn phê phán đả
kích nhóm Sáng Tạo, và coi tôi
là
nhà “lý luận văn học” của nhóm
này (hồi 1960). Sau cuộc đảo chính hụt
11/11/1960, người ta cũng chỉ tố cáo thứ văn chương phi
chính trị, phi
luân, gây tác hại cho người thanh niên,
làm cho họ xa rời cuộc chiến
đấu chống Cộng sản. Văn Đàn không thể chụp mũ nhóm
Sáng Tạo về chính trị, vì “Sáng Tạo
và mấy tờ khác tương tự như Hiện Đại do Nguyên Sa
phụ trách và Thế kỷ 20 do Nguyễn Khắc Hoạch chủ trương,
đều cùng một nguồn gốc xuất xứ về chính trị.
Dưới thời mà tôi gọi là “chuyên
chính tư sản”, ông Ngô Đình Nhu
không
trực tiếp điều khiển những sinh hoạt văn hóa giáo dục
thông tin, mà là
hai người cán bộ đảng Cần Lao phụ trách: Bác sĩ
Trần Kim Tuyến và ông
Huỳnh Văn Lang. Đường lối của họ là làm sao quy tụ được
giới nhân sĩ cả
Nho học lẫn Tây học, văn nghệ sĩ là giới có
thói quen kỵ chính trị,
ngại liên hệ với bất cứ vụ gì dính líu đến
nhà nước, lại đầy tự trọng,
tự cao, tự đại, không muốn chịu áp lực nào về kinh
tế. Như vậy chỉ có
cách là tỏ ra trân trọng chuyên môn,
tài năng và cá tính của họ, để cho
họ tự do làm báo, ra nhà xuất bản tư nhân,
nếu cần thì giúp họ về vật
chất, thủ tục hành chánh, chỉ có điều kiện duy
nhất về chính trị: không
được bày tỏ công khai hoặc gián tiếp lập trường
theo hay thân Cộng. Đối
với đa số kể trên, điều kiện đó thực ra không phải
là điều kiện vì họ
đã lựa chọn lập trường chống Cộng, và chỉ muốn được tự do
biểu lộ lập
trường đó theo cách thế của họ. Như vậy, các sinh
hoạt văn hóa, văn học
nghệ thuật tuy có định hướng chủ trương nhưng không
có chỉ đạo. Liên
lạc với chính quyền thường chỉ qua người quản lý, thư
ký tòa soạn, chủ
yếu là lãnh tiền tài trợ, còn chính
những người đứng đầu, có người
chẳng bao giờ gặp ông Nhu, ông Tuyến, ông Lang.
Ngoài ra những người
đứng đầu các tạp chí, cơ quan văn hóa đều
là những người không Công
giáo. Qua những tài liệu tôi còn giữ được,
có thể kể được một số tạp
chí tiêu biểu do bác sĩ Tuyến phụ trách, quy
tụ đa số người Bắc hay di
cư:
Tạp chí Quê Hương, nguyệt san
nghiên cứu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, chủ nhiệm là giáo sư Nguyễn Cao Hách ở trường
Luật;
Tạp chí Luận Đàm, cơ quan của Tổng hội
Giáo giới Việt Nam, chủ nhiệm là cụ Thẩm Quỳnh, chủ
bút là cụ Nghiêm Toản;
Tạp chí Văn hóa Á châu,
cơ quan của hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, chủ nhiệm
là giáo sư Nguyễn Đăng Thục, thư ký toà soạn là Lê Xuân Khoa;
Tạp chí Những Vấn Đề Của Chúng Ta, chuyên
bàn về lý luận chính trị, do Thái Lăng
Nghiêm, gốc Duy Dân phụ trách;
Tạp chí Tin Sách,
nguyệt san của Trung Tâm Văn Bút quy tụ các nhà văn thời tiền chiến nổi
tiếng như Nhất Linh, Vi Huyền Đắc, Đỗ Đức Thu, Vũ Hoàng Chương, Lê Văn
Trương và các nhà văn các thế hệ sau;
Tâp chí Sáng Tạo do Mai Thảo chủ trương;
Tạp chí Hiện Đại do Nguyên Sa chủ trương;
Tập san Thế Kỷ 20 do Nguyễn Cao Hách đứng chủ nhiệm và Nguyễn Khắc Hoạch đứng chủ bút.
Ông Huỳnh Văn Lang phụ trách
tạp chí Bách Khoa
chủ ý quy tụ những người gốc miền Nam hoặc kháng chiến
cũ, kể cả cựu
đảng viên. Bài “Thay lời phi lộ” đăng
trên số 1 xác định tinh thần mục
đích của tạp chí “quy tụ mọi người không cần
cùng một tôn giáo, một
quan điểm chính trị, một tổ chức chính trị chặt chẽ mới
có thể trở
thành bạn đường trong lúc tìm kiếm bất chấp đến dĩ
vãng nếu hiện thời đi cùng một con đường”.
Cũng có những tạp chí
không do nguồn tài trợ
của bác sĩ Tuyến hay ông Huỳnh Văn Lang, như tạp
chí Văn Hóa Ngày Nay
của Nhất Linh, nhà xuất bản Quan Điểm của nhóm ông
Nghiêm Xuân Hồng (đứng đằng sau là Duy Dân),
hay tạp chí Nhân Loại rất gần gũi thành phần
kháng chiến cũ nhưng đứng ở ngoài quỹ đạo báo
Bách Khoa.
Ở nước ngoài, đặc biệt ở Hoa Kỳ và rõ hơn ở vùng Cali, hai người đã
viết trước 1975 ở miền Nam được nhiều bài báo, nhiều số tạp chí đặc
biệt, thậm chí cả sách đề cao xưng tụng, là Võ Phiến và Mai Thảo. Về Võ
Phiến, tôi đã đề cập những sai sót lệch lạc trong tập Văn học Miền Nam trong chương trước; nay vẫn phải lại sự kiện này nhưng dưới một góc nhìn khác:
Trong “ngày Võ
Phiến” tổ chức ở California, 14/9/1985, Nguyên Sa đưa ra
nhận định văn chương miền Nam trước 75 gồm 4 khối lớn: nhóm
Sáng Tạo của Mai Thảo, nhóm Đất Nước của Nguyễn Văn
Trung, nhóm Bách Khoa của Võ Phiến, nhóm
thứ tư gồm những nhà văn độc lập. Võ Phiến, trong cuốn
Văn học miền Nam – tổng quan,
có nhắc lại nhận định của Nguyên Sa nhưng không thắc
mắc gì, khiến
người đọc có thể hiểu là Võ Phiến tán
thành lối nhìn của Nguyên Sa, vốn
chỉ là phát biểu ngẫu hứng một cách tự phát
trong một buổi họp mặt đề
cao Võ Phiến, không phải từ một nghiên cứu lịch sử
văn học nghiêm
chỉnh. Sau khi sách ra đời, nhiều nhà báo
khác cũng nhắc lại luận điệu
kể trên.
Cuốn Văn học Miền Nam – tổng quan do anh Võ Phiến “thân
kính gửi tặng” tôi hồi 1994 cùng với nhiều cuốn khác của anh. Tôi cũng
đã ghé thăm anh tại nhà trong một chuyến đi Mỹ. Tôi vẫn thắc mắc về lối
nhìn kể trên mặc dầu tôi viết cho Bách Khoa
ngay từ những số đầu tiên, ký bút hiệu Phan Mai,
Hoàng Thái Linh; và số bài tôi viết
cho Bách Khoa từ đầu cho đến 1975 có lẽ
không thua gì số bài của Võ Phiến. Sau 1975,
khi Võ Phiến đi rồi, còn ít anh em ở lại,
tôi vẫn đến Bách Khoa
hoặc nói chuyện với đôi ba người cộng tác viên cũ hoặc riêng với anh Lê
Ngộ Châu. Gần đây tôi liên lạc được với anh Huỳnh Văn Lang, nêu thắc
mắc. Anh trả lời tôi bằng cách gửi cho tập hồi ký Nhân chứng một chế độ
mà anh vừa xuất bản. Anh bảo: Cứ đọc tập 1 trong ba cuốn hồi
ký của anh, trong đó có nói về tạp
chí Bách Khoa (từ trang 418). Một cách công khai, Bách Khoa
là của anh Huỳnh văn Lang, Sau 1963, vì anh bị rắc rối, tù đày, nên
trao cho anh Lê Ngộ Châu điều hành cho đến 1975. Nhưng thực ra ngay từ
đầu Lê Ngộ Châu đã là “linh hồn” của tờ báo. Anh không viết gì, nhưng
lại mời được người viết thuộc nhiều giới có lập trường khác nhau viết
bài. Điều khó khăn hơn cả mà anh làm được là yêu cầu người viết thêm
bớt, và được mọi người vui vẻ chấp nhận. Do đó, có thể nói Bách Khoa
là Lê Ngộ Châu, và chắc anh Huỳnh Văn Lang
củng đồng ý như vậy. Nhưng Lê Ngộ Châu là ai?
Ít ai trong giới bạn bè cộng tác với Bách Khoa
thắc mắc về anh, đặc biệt về quá khứ trước 1955 ở miền Bắc của anh, có
lẽ vì ai củng quý mến anh. Sau 1975 anh không gặp rắc rối gì, kể cả
thời kỳ đầu gay go, căng thẳng, và bạn bè cũ như tôi vẫn lui tới Bách Khoa
cũng không gặp rắc rối gì. Có lần anh nói thoáng qua rằng anh là một
cựu bí thư. Tôi không xét đoán con người thực của anh vì vô ích. Hoặc
anh là người cựu Cộng sản nhưng cách sống, giao tiếp không cho thấy
chút gì là Cộng sản, kể cả trong ngôn ngữ. Bài tôi viết đôi khi dùng
một số từ ngử, kiểu nói của miền Bắc trước 1975, anh chỉnh ngay, đề
nghị sửa lại. Hoặc anh là người quốc gia thực sự vì lối sống hoàn toàn
của một người không Cộng sản. Kết luận của cả hai giả thuyết giống
nhau, chỉ có một: anh sống như một người quốc gia, và nếu anh có là
người Cộng sản thì lối sống của anh lại như một người quốc gia, thì
người Cộng sản đó là người quốc gia mà thôi.
Trường hợp Phạm Ngọc Thảo, một người đã cộng tác với Bách Khoa
từ những số đầu, cũng đáng chú ý. Trong nội bộ đảng hình như có ý kiến
nghi ngờ, nhưng rút cục, một cách chính thức, đảng nhìn nhận Phạm Ngọc
Thảo là người của mình. Tuy nhiên về phía quốc gia, đặc biệt những
người Công giáo, kể cả những linh mục quen thân, lại coi Phạm Ngọc Thảo
là người quốc gia, người Công giáo. Nếu Phạm Ngọc Thảo là Cộng sản, lúc
hấp hối không cần đóng kịch; Phạm Ngọc Thảo vẫn yêu cầu được gặp một
linh mục để lo giúp phần hồn cho anh như mọi người Công giáo khác. Rút
cục, chỉ có Phạm Ngọc Thảo biết rõ về mình, và bây giờ đã vỉnh viễn ra
đi.
Về Mai Thảo, những người ca tụng
nhà văn này ở hải ngoại
đều coi Mai Thảo là người đứng đầu, chủ trương tạp chí
Sáng Tạo. Cách xuất hiện của Sáng Tạo được xem
là “điểm đổi hướng” trong sinh hoạt văn học nghệ
thuật miền Nam (Trương Vũ, “Sáng Tạo với văn học miền
Nam”, Hợp Lưu,
số đặc biệt về Mai Thảo, số 16, 1994, tr. 8). Ảnh hưởng của nhóm
này ra
sao, cỡ nào..vẫn có thể là một đề tài để
tranh luận, nhưng có điều chắc
chắn là từ 1954 cho tới nay, chưa có nhà văn hay
nhóm văn học nào gây
được sự khích động như nhóm Sáng Tạo (Nguyễn Tả
Cúc trong bài “Tô Thùy Yên,
nhà thơ”, Khởi Hành, số “Suy niệm Mai
Thảo”, 1997 tr.19). Trương Vũ cho biết “Theo lời kể của họa
sĩ Ngọc Dũng, sự ra đời của Sáng Tạo
có tính cách hết sức ngẫu nhiên, khởi đầu từ
một gặp gỡ tại phòng tranh của Duy Thanh” (trang 8).
Đối với những thế hệ sau, hạ bệ hay xưng tụng một nhà văn về phương
diện sáng tác là điều bình thường trong lịch sử văn học thế giới, đúng
hay sai, đều phải được tôn trọng, vì đó là quyền của thế hệ đi sau.
Nhưng xác định nguồn gốc, xuất xứ của một công trình cầm bút tập thể
như ra một tạp chí, một nhà xuất bản và xác định ảnh hưởng của nó đối
với người đương thời, thì đó là thuộc lãnh vực nghiên cứu của lịch sử
văn học. Làm việc này ở Việt Nam trước hết không thể không lưu ý đến
hoàn cảnh chính trị của một đất nước trong thời kỳ lịch sử cận hiện
đại, trong đó người cầm bút chưa hề có đầy đủ tự do chính trị. Và khi
không có tự do chính trị, thì mọi địa hạt khác như văn học, nghệ thuật,
giáo dục, tôn giáo, vv. đều bị chính trị hóa. Thứ đến, cũng cần lưu ý
tới hoàn cảnh xã hội của người cầm bút, nhất là lối sáng tác thơ văn.
Đã có bao nhà văn nhà thơ Việt Nam sống được chỉ nhờ vào việc cầm bút
sáng tác? Hay là văn học nghệ thuật vẫn chỉ là một nghề tay trái, nghề
phụ?
Trong bối cảnh đó, việc xuất hiện
tạp chí Sáng Tạo không phải là điều ngẫu
nhiên, như thể Sáng Tạo
ở trên trời rơi xuống, mà nằm trong một chính
sách chính trị về văn hóa
thời kỳ đầu đệ nhất cộng hòa. Tôi là người gần gũi
với Mai Thảo, không
phải vì viết bài trong những số đầu tiên của
Sáng Tạo
với bút hiệu Phan Mai, Hoàng Thái Linh, mà
vì trực tiếp dính líu tới xuất xứ và việc
điều hành Sáng Tạo.
Tôi thường được Mai Thảo rủ đi nhà hàng Văn Cảnh,
gần chợ Bến Thành.
Mai Thảo đem xe đến đón tôi và vợ chồng một người
Mỹ thuộc cơ quan
USIS. Chúng tôi ăn cơm tối với nhau, sau đó
khiêu vũ. Tôi không biết
nhảy, nên thường ngồi nói chuyện với một trong ba người ở
lại với tôi.
Ông giám đốc người Mỷ này học ở Paris lấy vợ người
Pháp, nói thạo tiếng
Pháp vì những người Mỷ sang Việt Nam thời bấy giờ thường
phải biết nói
tiếng Pháp để giao dịch với trí thức Việt Nam.
Quãng từ 10 giờ tới 11
giờ, Mai Thảo đưa chúng tôi về, nhưng chỉ bà vợ
ông giám đốc và tôi về,
còn Mai Thảo và ông giám đốc được bà
vợ cho phép đi khiêu vũ tiếp với
Mai Thảo. Lúc đó tôi không thắc mắc
gì, nhưng bây giờ nghĩ lại, tại sao
Mai Thảo không mời bạn thân của anh như Nguyễn Sĩ Tế
thông thạo Pháp
văn, hoặc ngoài tôi ra, Mai Thảo có rủ các
bạn của anh đi Văn Cảnh với
vợ chồng ông Giám đốc USIS người Mỹ này
không?
Do những lần đi Văn Cảnh này mà tôi hiểu được đường lối và văn hóa của
USIS và biết được Mai Thảo dính líu với USIS về tài chánh. Sau 1963,
tôi đọc được trong hồ sơ hành chánh của Bộ Thông tin và Thanh niên một
nghị định do ông Trần Chánh Thành ký cấp giấy phép cho tờ Sáng Tạodo
ông Robert P. Speer giám đốc thông tin Hoa Kỳ tại
Việt Nam làm đơn
gửi Bộ Thông tin và Thanh niên. Trong văn thư
này có nói về một dự định
xuất bản một nguyệt san văn nghệ dành cho giới công chức,
trí thức Việt
Nam, gồm các sáng tác, truyện ngắn, phóng
sự, không có tính cách chính
trị, nhằm mục đích đề cao Sài Gòn là thủ
đô văn hóa và trí thức của
Việt Nam, vạch rõ tại Miền Nam tự do, các học giả,
trí thức,văn sĩ đứng
đắn được hoạt động tự do trong phạm vi văn nghệ. Tạp chí
này sẽ giao
cho một người Việt Nam làm chủ nhiệm, và như vậy, đối với
độc giả, tập
san không lộ ra là tài liệu tuyên truyền
công khai. Trong bài “Sài Gòn
thủ đô văn hóa Việt Nam” mở đầu Sáng Tạo số 1, Mai Thảo viết:
“Sài Gòn thay thế cho Hà Nội, từ một đô thị miền Nam trở thành thủ đô
tinh thần của toàn thể đất nước. Sài Gòn sáng tạo và suy tưởng”.
Làm sao Mai Thảo có thể chi
tiêu nhiều thứ: thuê nhà, đi xe hơi, ăn cơm
tiệm, dĩ nhiên với bạn bè, đi khiêu vũ, bao
đào, vũ nữ, nếu không có
tài trợ dồi dào ? Viên Linh trong bài
“Mai Thảo riêng tây” (Khởi Hành số
tháng 8, 1997) có kể lại việc anh đến tòa
báo Sáng Tạo
để đòi tiền nhuận bút mà không được, chứng
kiến tận mắt cảnh Mai Thảo
vét giấy 500 từng xấp chưa có nếp gấp, bỏ trước khi ra
đường, đi với
một hoa khôi vũ nữ Sài Gòn, trong khi lương
giáo sư tư thục chỉ lãnh 2
đến 3 ngàn đồng mỗi tuần. Cảnh đó làm Viên
Linh giận Mai Thảo. Tôi
không bao giờ nghĩ đến đòi Mai Thảo trả tiền nhuận
bút, và không phiền
trách gì lối sống của Mai Thảo, vì nghĩ rằng anh
có tiền thì tiêu cho
mình, cho bạn bè, bao vũ nữ. Mai Thảo không
dùng tiền tài trợ mua nhà
hay mua vàng để dành, nên không bám
víu vào đồng tiền ham mê của cải
vật chất. Do đó anh vẫn giữ được tinh thần khó
nghèo theo Phúc âm. Lấy
tiền của Mỹ bao đào, gái nhảy, một giới bị bóc lột
về thân xác, theo
tôi chẳng phải là điều đáng trách. Về nguồn
gốc xuất xứ của Sáng Tạo,
trong chỗ riêng tư, Mai Thảo cũng không giấu giếm bạn
bè mà nói thẳng là có từng nhận tiền
của Mỹ để làm báo.
Bây giờ viết lịch sử văn học, báo chí văn học thời đệ nhất cộng hòa,
thiết tưởng về xuất xứ, không thể không nhắc đến vai trò của USIS đối
với Sáng Tạo; còn có thể đi xa hơn để xem USIS như cơ quan chủ trương Sáng Tạo,
vì Mai Thảo chỉ là người được uỷ nhiệm thực hiện chủ trương mà USIS đã
đề ra, ít ra cũng là trong giai đoạn đầu của tạp chí. Cũng tương tự như
thế, phải trả lại tạp chí Quê Hương cho sở Nghiên cứu chính trị phủ Tổng Thống.
Tuy nhiên xác định về nguồn gốc xuất xứ chính trị không có nghĩa là gạt
bỏ việc nghiên cứu, tìm hiểu ý nghĩa, giá trị nghệ thuật của một tác
phẩm, một tạp chí. Ngay từ đầu thời đệ nhất cộng hòa và cả thời đệ nhị
cộng hòa, USIS ấn hành nhiều tạp chí khổ to, giấy láng, mang nhãn hiệu
USIS. Những tạp chí này thường chỉ đặc biệt chuyên về văn hóa, văn học,
tuyển dịch giới thiệu những tác phẩm của những tác giả nổi tiếng nhất
của văn hóa, văn học Mỹ thật có giá trị và có ích cho người đọc, nhất
là người đọc chỉ quen thuộc với văn học Pháp. USIS cũng tìm được những
người như Pierre Đỗ Đình, một học giả chuyên giới thiệu sách về Đông
phương học trong tờ Le Monde
thời ông còn ở Pháp phụ trách coi tạp chí. Nhưng mang cái nhãn hiệu
Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, tạp chí được gửi tặng không cho trí thức (tôi
thường nhận được hai bản gửi về nhà, một bản về trường). Những loại tạp
chí này thường ít được đọc, vì người đọc vẫn thường kỵ tất cả những gì
dính líu tới nhà nước.
Rút kinh nghiệm kể trên, khi
gửi đơn xin phép Bộ Thông Tin và Thanh
niên, USIS đã nói rõ là phải trao cho
một người Việt Nam, và họ đã trao
cho Mai Thảo. Ba tạp chí Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ 20
đều ra trong một thời điểm và đều có nguồn tài trợ
của Hoa Kỳ hay của
chính phủ. Ngoài ra Nguyên Sa từ trước 1975
và sau 1975, cũng nói toẹt
ra là báo Hiện Đại là báo ăn tiền
nhà nước. Tôi có viết cho Thế Kỷ 20, nhưng
không viết bài nào cho Hiện Đại. Nguyên Sa
và tôi đều cộngtác bài vở với Sáng
Tạo, ủng hộ Sáng Tạo khi Sáng Tạo bị báo Văn
Đàn công kích. Tôi tranh luận dằng dai với
Văn Đàn, còn Nguyên Sa đã làm cho Văn
Đàn im lặng khi Nguyên Sa lên tiếng theo cung
cách cố hữu của anh. Nguyên Sa viết trên trang 4
Hiện Đại “ Khuôn mặt thời gian” một bài như
sau:
Vào một buổi tối thứ Bảy trời mưa, Nguyễn Văn Trung đã nói chuyện tại
một câu lạc bộ, tôi không làm việc tường thuật buổi nói chuyện ấy trên
trang bìa này, cũng không phê bình. Tôi chỉ muốn nói đến một ý nghĩ:
cuộc nói chuyện đã ném vào tôi một xúc động lớn. Nguyễn Văn Trung thuộc
về một số ít ỏi của thế giới ngày nay dám nói lên những ý nghĩ chân
thành của lương tâm, nói lên điều cần nói, điều phải nói. Nói lên dù
biết chắc rằng sẽ bị áp lực, trở ngại, dù sẽ bị xuyên tạc phỉ báng,
lăng mạ đấm vào lưng bởi những loài bò sát quen luồn tránh sự thật. Ông
thuộc về số người ít ỏi của thế giới này dám nói lên những lời mang ý
nghĩa của một giòng suối trong rửa sạch những ngụy trang, mang hình ảnh
của tấm gương soi chiếu thời đại, mang giá trị của lương tâm tập thể.
Vì thế tôi gọi Nguyễn Văn Trung là nhà triết học với tất cả những ý
nghĩa trọn vẹn nhất của tiếng này”.(Hiện Đại số 6, tháng 4, 1960).
Vụ tranh luận với Văn Đàn vừa
xong, tôi viết một thư ngỏ gửi nhóm Sáng Tạo, đăng
trên Bách Khoa số 94, ngày 1 12 1960, để bày
tỏ thái độ không đồng tình với Sáng Tạo
trong việc phủ nhận, khinh miệt văn học tiền chiến bằng lý luận,
đả kích, trong khi về sáng tác, báo
Sáng Tạo
chưa hề cho thấy có những tác phẩm được nhín nhận
có ý nghĩa, hướng đi thật sự đổi mới. Tôi viết thư
ngỏ này sau khi đọc số Sáng Tạo
“Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam”, xin
trích một vài đoạn:
blockquote> “..Người ta nói nhiều về sự nhộn nhịp phong
phú trong
sinh hoạt văn nghệ ngày nay. Nhưng riêng tôi,
tôi cảm thấy sự nghèo nàn
của văn nghệ ngày nay hơn thời văn nghệ tiền chiến. Nếu căn cứ
vào tác
phẩm mà đánh giá thì phải nhận rằng sinh
hoạt văn nghệ nghèo nàn. Tuần
báo, tạp chí đúng ra không phải là
sinh hoạt văn nghệ, nhưng chỉ phản
ảnh sinh hoạt đó thôi. Vậy mà ngày nay,
chúng ta chỉ có tạp chí, tuần
báo văn nghệ, nghiã là chỉ có những người
viết báo, hay sáng tác của
tạp chí. Đâu là những vở kịch, tiểu thuyết hay tập
thơ được nói đến
hàng tháng? Chúng ta liên tưởng tới nỗi khổ
tâm của những người phải
làm cái việc bất đắc dĩ là tính sổ văn nghệ
cuối năm trong những số báo
Xuân”.
“Nhìn vào tình trạng văn nghệ ngày nay, chính các anh cũng nhận là
‘chưa có những thực hiện đáng kể’ (Mai Thảo). Nhiều người theo dõi sinh
hoạt của Sáng Tạodù
mang nhiều thiện cảm đến đâu đi nữa với tạp chí này
không khỏi phàn
nàn về một ý chí tụ thành nhóm
mà lập trường chỉ là một chống đối tiêu
cực cao kỳ và hằn học. Ý chí đó còn
dè dặt trong số đầu và đến số ‘Văn
nghệ tiền chiến’ đã thành một sự đả kích,
gây hấn. Những lời nói đầy tự
cao và bạo động đó đem lại lợi ích gì?
Hoàn toàn vô ích, nếu không phải
là tai hại, vì chỉ tạo nên và gia tăng bầu
không khí ‘chiến tranh lạnh’
trong văn nghệ. Các anh chẳng tiêu diệt được gì
những người mà anh muốn
đả kích và cũng chẳng vì thế mà các
anh được chấp nhận”.
“ Khi các anh tự hỏi tại sao bây giờ còn có người đọc Tự Lực Văn Đoàn,
các anh cho rằng vì có những người vẫn luyến tiếc và âm mưu duy trì cái
thứ văn ‘đàn bà, ấu trĩ, khóc sướt mướt’ đó như các anh đã nhắc đi nhắc
lại nhiều lần trong buổi thảo luận. Nhưng các anh không hỏi lại tại sao
người ta vẫn tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn, dù không có những cố gắng gợi lại
và duy trì đi nữa? Tại sao người ta không tìm đến các anh, những chứng
nhân của thời đại? Phải chăng vì Tự Lực Văn Đoàn còn nói lên được cái
gì, hay vì người ta không tìm thấy cái gì đáng đọc của người hôm nay,
nên đành phải trở về cái cũ vậy? Nêu lên câu hỏi trên, chúng ta không
thể không nghĩ tới tình cảnh văn nghệ nghèo nàn ngày nay, sự thiếu sót
những tác phẩm thực sự trưởng thành nói lên được muôn vàn khía cạnh của
cuộc đời mới”.
“...Tôi cho rằng, nếu các anh tự nhận là
tiêu biểu cho văn nghệ hôm nay
và coi sự hiện diện của nó xây trên sự phủ
nhận văn nghệ hôm qua, các
anh chỉ có một cách chính đáng nhất để phủ
nhận là sáng tác và dành
công việc chấp nhận sự phủ nhận đó cho người đọc, người
phê bình”. Muốn
tìm hiểu một cách nghiêm chỉnh ảnh hưởng của Mai
Thảo và những tác giả
khác cùng thời, thiết tưởng cần dựa vào những lề
lối tiếp cận thường
được sử dụng: các phát biểu trên báo
chí, những thăm dò dư luận, phỏng
vấn... Hồi 1964, nhóm Hành Trình
ra một số đặc biệt về 10 năm văn học miền Nam (1954 1964), đã thực hiện
được một “trưng cầu ý kiến bạn đọc” về những tác phẩm văn học được
nhiều người ưa thích nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây (1954 1964).
“Đối
tượng của nhà văn bao giờ cũng là người đọc. Để có
thể biết một cách
tương đối chính xác về những xu hướng thưởng ngoạn
tác phẩm của quý
bạn, tạp chí Hành Trình rất mong mỏi được
quý bạn cho biết với
một nhận xét hoàn toàn chủ quan, một tác
phẩm nào (gồm đủ mọi loại)
xuất bản khoảng 10 năm trở lại đây, được bạn đọc và ưa
thích hơn cả. Về
tiểu thuyết (gồm cả tân truyện, tiểu thuyết kịch), về biên
khảo (gồm cả
tiểu luận, phê bình văn học), về thơ, tên tác
phẩm, tác giả. Chúng tôi
tin ở sự quan tâm đặc biệt của quý bạn đối với văn học
nước nhà hiện
nay, sẽ hưởng ứng và phổ biến trong các thân hửu để
cuộc trưng cầu này
được mọi người tham gia rộng rải, kết quả chúng tôi sẽ
thông báo trong Hành Trình số 3, số đặc biệt
“Nhìn lại 10 năm văn học miền Nam (1954 1964)”.
Đó
là nội dung phiếu gửi đi. Những phiếu gửi về cho biết những
tác phẩm
của tác giả nào được kể đến, và lập bảng thống
kê đối chiếu cho biết
những tác phẩm của tác giả nào được đọc nhiều hơn
cả. Hành Trình
chưa nhận được nhìều phiếu gữi về, nhưng những phiếu gửi về
đã cho biết
những tác phẩm nào được đọc so với các tác
giả khác. Kết-quả cuộc trưng
cầu này có trong “Hồ sơ Hành
Trình”, Tủ sách Sử-liệu Việt Nam thời cận đại hiện
đại.
Nói về những con số thì kết
quả cuộc trưng cầu tuy chưa được nhiều,
nhưng cũng phản ảnh tương đối trung thực dư luận đương thời. Và
dư luận
đương thời không giống dư luận ở Hoa Kỳ 30, 40 năm sau. Tuy
nhiên phản
ảnh tương đối trung thực chưa hẳn là phản ảnh đúng
vì có trường hợp tác
phẩm không được, hay ít được đọc vì khó đọc,
khó hiểu, nhưng lại có giá
trị. Chẳng hạn, về Thanh Tâm Tuyền, chỉ có phiếu đọc thơ,
mà không có
phiếu nào đọc tiểu thuyết. Thời đó chúng tôi
chú ý tới tập truyện Khuôn mặt
của Thanh Tâm Tuyền và đã đề nghị anh Đổ Long
Vân điểm sách. Anh Vân
viết rất khó, rất lâu, và đã viết về cuốn
này một bài điểm sách dài 11
trang, “Khuôn Mặt, hay là tâm sự tiểu tư sản
trong Thanh Tâm Tuyền”, đăng trong Hành Trình
số 5, (tháng 2 1965). Bài viết thật công phu,
sâu sắc của một nhà phê
bình tuy viết ít nhưng đã để lại một số công
trình độc đáo. Anh đã qua
đời hồi 1997 ở Sài Gòn. Xin trích lại mấy đoạn sau
đây trong bài viết
công phu này:
“…Suốt tập Khuôn Mặt, Thanh Tâm
Tuyền đã lên án tính cách vô dụng của sự làm văn. Anh không phải là
người đầu tiên. Nhưng có lẽ anh là người đầu tiên thấy rằng cái phần
chân thật nhất của sự làm văn là ở sự vô dụng ấy. Xưa những người chủ
trương nghệ thuật vị nghệ thuật cũng nghĩ rằng cái cao quý của văn,
cũng như của tất cả những nghệ thuật khác, là nó không có một ích lợi
nào. Nhưng họ còn có ảo tưởng rằng họ phụng sự một cái đẹp muôn đời. Và
thế thừa đủ để minh chứng cho việc làm của họ...
Sự chân thực của người nữ văn sĩ xấu trong Thanh Tâm Tuyền.
Trái lại,
là ý thức được rằng làm văn không có
gì minh chứng được cả, là từ chối
tất cả những minh chứng, và đảm nhiệm hoàn toàn sự
phản bội của mình...
Ở một thế giới ai cũng thấy mình có lý hơn kẻ
khác thì cám dỗ của Lưu
trong truyện Isabelle, là trở nên một người tuyệt đối
không có lý.
Nhưng sự tuyệt đối không có lý ở đâu nếu
không ở trong sự yên lặng của
những đồ vật? Và trước sự yên lặng ấy thì tất cả
những lý của người ta
thật là nhẹ như chẳng ra gì. Hoá ra ở chỗ tuyệt
đối không có lý Lưu lại
khám phá ra cái chân không của tất cả
những lý, và cái chân không tuyệt
đối mà sự phản bội dẫn anh tới trả anh cho sự yên lặng rất
đầy của thế
giới cụ thể. Anh bỏ cách mạng, bỏ sự làm ăn, bỏ những ảo
ảnh của sân
khấu tất cả những cách ý nghĩ hoá cuộc đời để trở
về với “Cô Ba hiền
khô”, với con chó già nằm phục bên cối
đá, với khoảng đất sũng nước,
con kinh đầy... Khi quay về cuộc sống cụ thể ở bên con kinh đầy,
Lưu
lên án tham vọng của Yến và của mình như
những cố gắng để tiểu thuyết
hoá cuộc đời. Người thì làm văn, người thì
làm cách mạng, mỗi người một
cách, họ đã muốn cho đời mình một ý nghĩa.
Nhưng tại sao lại sống theo
một ý nghĩa? Ý nghĩa là tiểu thuyết, là ảo
tưởng, là chân không, là sự
phản bội cuộc đời. Chẳng hạn, trên một chuyến xe bus đông
người, một
người đàn bà thò tay lấy cái bút
máy của người bên cạnh. Cử chỉ ấy
trước mắt mọi người đều có một ý nghĩa hiển nhiên:
ấy là một cử chỉ ăn
cắp. Nhưng nếu mọi người đều tin ở sự ăn cắp ấy như một sự kiện khoa
học thì Nghệ có cảm tưởng là chỉ “thấy những
bóng ma”? Ăn cắp đâu có
phải là cái nghĩa tự nhiên của cử chỉ ấy? Nó
chỉ có cái nghĩa ấy trong
một thế giới của tư hữu. Tự nó thì nó cũng chẳng
có gì lạ hơn bất cứ
một cử chỉ nào khác. Và người ta hiểu tại sao, tuy
đã chứng kiến cử chỉ
ấy, Nghệ vẫn không dám tin là đã thấy
nó. Nhân vật của Thanh Tâm Tuyền
cũng như chàng Meursault trong L’Étranger,
tuyệt đối sống ngoài ngôn ngữ của giống người. Và
không phải ngẫu nhiên
mà Thanh Tâm Tuyền đã là người khai mạc sự
khủng hoảng ngôn ngữ ở xứ
này và người đầu tiên đã dùng thơ
làm một công trình phá huỷ ngôn ngữ
để đạt tới trong mọi vật, sự vô nghĩa nguyên uỷ của
chúng.
“Tất cả tập Khuôn mặt cũng gọi người ta trở về sự vô nghĩa
ấy. Xã hội lên án người này là ăn cắp, người kia là gái điếm, người kia
nữa là phản quốc. Nhưng tất cả những danh từ ấy có gì là thực đâu? Thực
là con người xương máu của mỗi người. Và trước cái thây cháu còng queo
của Quang, một anh chàng làm công an cho Tây, thì cái chữ phản quốc có
nghĩa gì ? Con người bày ra những ý nghĩa , những giá trị, những lý
tưởng để sống theo. Nhưng tất cả những thứ ấy, trong sự trừu tượng của
chúng, là những mãnh lực của cái chết.
... “Không cần phải nói nhiều thì ai cũng thấy rằng trong truyện ấy
Thanh Tâm Tuyền đã tả tâm sự một thanh niên di cư. Và cái luân lý đã
làm khổ người con trai trong truyện chính là ý thức hệ Cộng Sản. Một ý
thức hệ mà những thanh niên tiểu tư sản như Thanh Tâm Tuyền đã từ chối,
khi 10 năm trước, họ đã từ biệt xứ sở để chọn đường vào Nam. Nhưng tuy
từ chối, con người họ đã bị ý thức hệ ấy xâm đoạt. Và họ coi nó là cái
lý tuyệt đối. Mâu thuẫn của họ giống cái mâu thuẫn xâu xé, người con
trai trong truyện Khuôn Mặt.
Và để thoát khỏi mâu thuẫn ấy, họ chỉ có cách là xác định một thực tại
ở ngoài tầm những lý, những ý thức hệ, những danh từ... Trước khi gặp ý
thức hệ Cộng Sản, những người thanh niên ấy sống trong ảo tưởng rằng họ
cũng là người như tất cả mọi người, cũng yêu, cũng ghét, cũng vui, cũng
buồn, cũng đau khổ và cũng biết công phẩn trước những bất công như tất
cả mọi người, nói tóm lại, là những người lương thiện. Nhưng người Cộng
Sản đến bảo họ là những người tiểu tư sản. Họ rất ngạc nhiên. Nhưng họ
đã bị gọi tên, họ mất sự vô tội và bây giờ tất cả con người họ từ dáng
đi, điệu đứng, cách ngồi, những ý tưởng thầm kín nhất của họ cũng đều
có vẻ tiểu tư sản, nghĩa là rất khả nghi. Một người tiểu tư sản, quả
vậy, chưa hẳn là một người. Con người lương thiện củ trong họ đã chết.
Nhưng không thể nhận cái danh từ tiểu tư sản đã đánh dấu họ như một sa
đọa, họ chẳng thể làm gì hơn là tố giác sự giả tạo của tất cả những
danh từ nhân danh một thực thể không thể nào gọi tên. Với Thanh Tâm
Tuyền cả một phần của văn học xứ này đã trở về thực thể, trở về cái cụ
thể của thế giới, trở về cái phần không biết nói của con người. Nhưng
người ta không thể giải thích xu hướng ấy ngoài sự gặp gỡ ý thức hệ
Cộng Sản của thế hệ 54.
Quanh tôi, người ta nhớn nhác hỏi nhau sao không ai tìm ra một ý thức
hệ để chống Cộng và xây dựng xã hội mới. Câu hỏi thật là ngớ ngẩn. Một
ý thức hệ không phải một ngày làm ra như một cách nấu ăn. Nhưng có lẽ
giờ đã đến lúc người ta phải nhắc lại rằng cả một lớp người đã từ chối
ý thức hệ Cộng Sản không phải để làm ra một ý thức hệ ngụy tạo nào khác
thế chân, nhưng để trở về một sự vô nghĩa nguyên uỷ lên án tất cả những
ý thức hệ. Nhưng thế giới không có gì thay đổi. Trật tự xã hội vẫn
nguyên vẹn. Những giai cấp vẫn tiếp tục. Và họ vẫn là những người tiểu
tư sản. Hoá ra từ chối ý thức hệ Cộng Sản để tìm lại con người thực của
họ, người tiểu tư sản càng ngày càng giống cái ảnh tượng của họ mà
người Cộng Sản đã vẽ ra. Thật là buồn cười! Thật là mỉa mai! Nhưng
người ta hiểu rằng người ta không thể thoát khỏi một danh từ khi vẫn
còn cái thực tại nó gọi tên. Rất có thể cái tên ấy không đẹp lắm. Một
người tiểu tư sản chưa hẳn là một người. Và cũng không người nào có thể
được tóm tắt hết trong danh từ tiểu tư sản. Nhưng con người Thanh Tâm
Tuyền đề nghị, con người xương thịt, con người của trọng lực, cũng chỉ
là một mẫu người của con người đã bị chặt đi một nửa, một trạng thái
của sự vong thân con người. Và cái thế giới của con người ấy cũng thế...
Nhưng thảm kịch của thời đại này là người ta phải chọn
giữa hai ảnh
tượng cực đoan ấy của thế giới. Một, theo ý thức hệ, nghĩa
là chỉ nhìn
thấy ý nghĩa lịch sử của mọi vật, Hai, có thể gọi
là tiền ngôn ngữ nhằm
trả lại mọi vật cho cái yên lặng nguyên uỷ của
chúng. Ấy là hai mặt của
cùng một thực tại. Và trên một phương diện
nào, người ta có thể coi cả
hai như một cố gắng gảy đôi của lý trí để đạt tới
một cái biết toàn
diện. Thanh Tâm Tuyền đã sống sự gãy đổ ấy, anh
không tìm cách giấu
giếm nó sau cái giả tự nhiên, giả lương thiện, giả
nhân loại mà số lớn
chúng ta vẫn còn níu lấy để ẩn mình,
và chính vì thế mà đối với chúng
ta, tác phẩm của anh có ý nghĩa và
giá trị.” (Đỗ Long Vân)
Sau 1975, nhiều người cầm bút trong giới văn học bị bắt giữ, tù đày hay
bị buộc trốn ra nước ngoài vì một đánh giá quá cao vai trò của họ và
quan trọng hóa quá mức ảnh hưởng của họ trong dân chúng miền Nam, đặc
biệt vai trò ảnh hưởng của thứ văn chương phi chính trị để làm đẹp chế
độ như người Mỹ mong muốn. Trước 1975 cũng đã có ít nhiều những điều
tra, thống kê cho biết tình trạng sách báo về số lượng xuất bản, phát
hành trong các giới xã hội ở đô thị, nông thôn... Giả sử những người
cầm quyền sau 1975 biết được những thông tin đó do các tường trình khảo
sát dư luận kể trên, có lẽ đã chọn những đường lối đối xử khác thông
minh hơn, hiệu nghiệm hơn, khỏi phải làm khổ mệt những người bị bắt
giữ, bỏ trốn và cả người bắt giữ đi lùng bắt giữ...Thực tế đã không xảy
ra như vậy, và nhà cầm quyền đã đội mũ triều thiên hay quàng vào cổ
những nạn nhân đã chết hay còn sống ở trong nước hay ngoài nước, những
vòng hoa để tôn vinh những vị thánh tử đạo trên lãnh vực văn nghệ.
*
Sau đảo chánh 1 11 63, miền Nam bước vào thời gọi
là đệ nhị cộng hòa,
thường được xác định là một “thời Diệm không
có Diệm”. Có thể hiểu kiểu
xác định này về mặt tích cực và tiêu
cực: chế độ chuyên chính tư sản,
mật vụ giảm bớt hẳn, dân chúng được tự do hơn; giới cầm
bút có thể múa
bút mà không e dè, sợ hãi;
càng vào những năm gần 1975, càng phát biểu
phê phán mạnh mẽ, thậm chí có những
bài báo tạp chí xuất hiện như báo,
tạp chí của người anh em ở ngoài kia (trong khu hay
ngoài Bắc). Nhưng
tình trạng thiếu khuôn phép, hay khuôn
phép lỏng lẻo cũng đưa đến tình
trạng hỗn tạp, rối loạn, chụp mũ, đả kích, chửi bới nhau thậm tệ
trên
mặt báo.
Đối với tôi và bạn
bè, chúng tôi
có thể nói đến chính trị, ra những tạp chí
Hành Trình (in ronéo), Đất Nước, Bản Tin Văn Học
Nghệ Thuật
(in ronéo, 6 số), vào những năm 1966, 1967 nội dung gồm
các trao đổi về văn học, điểm sách. Sau đó
là các tạp chí Trình Bầy, Đối Diệnvv.
Chúng tôi đã có thể ra một tuyên
ngôn về hòa bình trao cho phái đoàn
giáo sư Đại học Mỹ ghé Sài Gòn. Tuyên
ngôn này cũng được đăng trong
Hành Trình số 10, về sau Tuyên ngôn
này được đăng một phần trong tạp
chí Esprit bên Pháp). Chúng tôi
có thể quy tụ anh em cầm bút
thuộc mọi giới khuynh hướng chính trị, văn học khác nhau,
ký chung một
kháng thư gửi Bộ Thông Tin Chiêu Hồi, đăng trong Đất
Nước số 12
(tháng 6 7/1969), đòi bãi bỏ chế độ kiểm duyệt
và phản đối hành động
đàn áp đối với Võ Phiến. Đó là những
sự kiện không thể quan niệm được
là có thể xảy ra thời đệ nhất cộng hòa. Về những
người anh em thù địch
phía bên kia, theo chỗ tìm hiểu của tôi trước
1963, do khả năng Mỹ đưa
quân ồ ạt vào miền Nam, mở rộng chiến tranh, cả hai
chính quyền Nam Bắc
đều ái ngại khả năng kể trên, nên có thể đồng
tình bàn tính một thương
lượng nào đó. Cách Mạng miền Nam do miền Bắc chủ
động gặp một trở ngại
đáng kể: chế độ Ngô Đình Diệm, mà hai người
anh em ông Nhu, ông Cẩn đã
tỏ ra có thể ngăn chận một cách hiệu nghiệm với mức độ
nào đó sự can
thiệp xâm nhập của Cộng Sản. Nhưng nếu Mỹ lật đổ chế độ ông
Diệm, người
Cộng Sản bắt buộc phải chấp nhận chiến tranh mở rộng, nhưng chắc chắn
sẽ thắng trong nội bộ người Việt Nam với nhau, vì sau ông
Diệm không
còn đối thủ đáng gờm nữa.
Trong tình hình thuận tiện sau 1963, người anh em thù địch phát động
tranh đấu chính trị trên các mặt trận văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã
hội, càng ngày càng phát triển mạnh trong lòng địch. Những hoạt động
tranh đấu của các đoàn thể hay phong trào ở đô thị hoặc chống Cộng
nhưng chống chính quyền, đối lập với chính quyền, không chống chế độ
Việt Nam Cộng Hòa hoặc do Cộng Sản chủ trương không những chống chính
quyền, mà còn nhằm lật đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Tất cả những đoàn
thể, phong trào kể trên đều có cơ quan ngôn luận. Nói rõ hơn, những
đoàn thể phong trào tranh đấu có thể phân biệt về giới: giới người lớn
có nghề nghiệp và giới trẻ, thuộc các đại học ở Sài Gòn và các thành
phố khác có đại học: Huế, Nha Trang, Cần Thơ, Đà Lạt, và một số trường
trung học. Nổi bật hơn cả trong phong trào của giới trẻ trí thức là khu
được gọi là khu “tam giác sắt”, gồm trường Văn Khoa, trường Luật,
trường Khoa Học thuộc Đại học Sài Gòn, về sau có thêm Đại học Vạn Hạnh.
Trong báo chí của các đoàn thể, phong trào tranh đấu, có những bài
thuộc đủ các bộ môn; lý luận, nghiên cứu lịch sử, sáng tác thơ, truyện,
kịch, âm nhạc... Ưu điểm nổi bật trong những biên khảo sáng tác của
giới trẻ là sự trong sáng, lòng trung thực vì động cơ chính thúc đẩy
sáng tác là nhiệt tình lý tưởng của tuổi trẻ. Tuổi trẻ thời kỳ này cũng
có những anh hùng tiêu biểu cho hy sinh quả cảm như Nhất Chi Mai, Quách
Thị Trang. Hai người con gái này thường là chủ đề của nhiều sáng tác
thơ văn tập thể.
Số lượng của mảng văn học này khá lớn gồm những ấn phẩm in hoặc quay
ronéo, thường xuất hiện trong thời gian ngắn và ít được phổ biến rộng
rãi ngoài giới trẻ trí thức. Tôi tham dự những sinh hoạt của mảng văn
học này có lẽ còn sâu đậm hơn mảng văn học tạm gọi là của người lớn.
Sau 1975, giới nghiên cứu phê bình văn học ở trong nước và hải ngoại
đều không nói gì đến mảng văn học này. Nó bị bỏ quên vì có thể người ta
không biết, hoặc bị bỏ qua vì biết mà không muốn nói đến, tương tự như
số phận mảng văn học miền Nam cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20
(Xem Hồ sơ Lục Châu Học).
Trong nước, chế độ hiện nay chưa muốn nhắc đến vì những hoạt động của
giới trẻ này không hoàn toàn được Đảng lãnh đạo.Ngay cả những thành
phần nằm trong tổ chức được lãnh đạo cũng chịu chung số phận là bị lờ
đi như không có. Họ cũng đã thất vọng, chán ngán ngay khi được tiếp xúc
với chế độ xã hội chủ nghĩa thực tế, như trường hợp những sinh viên trí
thức ra Hà Nội sau vụ Mậu Thân 1968. Chắc là khi nào có điều kiện thuận
lợi, những Lữ Phương, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Long Ẩn… cũng nên thổ lộ
cho công chúng nghe những tâm tâm trạng sâu kín của một thành phần trí
thức trong Nam đi ra thực tế tại “hậu phương lớn”. Những thành phần này
thật ra không phải là con đẻ của chế độ xã hội chủ nghĩa mà là của chế
độ xã hội chính trị miền Nam. Hải ngoại không muốn nói tới mảng văn học
này vì coi những thành phần làm ra nó hoặc là chống đối chế độ Cộng
Hoà, hoặc thân Cộng, theo Cộng Sản. Nhưng Việt Nam Cộng Hòa không phải
chỉ của những ngườichống Cộng theo chính quyền hay đối lập với chính
quyền mà của cả những người thân Cộng theo Cộng Sản ở miền Nam, vì
chính chế độ xã hội miền Nam với thể chế Việt Nam Cộng Hòa đã cho phép
tất cả những thành phần xu hướng kể trên tồn tại và hoạt động. Tóm lại
đặc điểm của Việt Nam Cộng Hòa là đã ít nhiều tôn trọng một thể chế cởi
mở, tự do mà miền Bắc sống trong chế độ chuyên chính toàn trị đã phủ
nhận.
Việc bỏ qua mảng văn học của giới trí thức trẻ thành phố
hay các phong
trào tranh đấu của họ thời 1964-1975 là một bất
công với các tác giả
của mảng văn học đó, đồng thời là một thiệt thòi
cho lịch sử văn học
thời kỳ này. Trước họ, những thế hệ đàn anh thời tiền
chiến, một nhóm
gồm hai ba chục người, trình độ tú tài là
cùng, nhiều người lứa tuổi 20
30 đã nổi tiếng đôi khi chỉ nhờ một bài thơ, một
truyện ngắn. Tại sao
thế hệ trẻ ba mươi năm sau trình độ đại học, sau đại học,
đông đảo hàng
trăm người lại đầy nhiệt huyết, tình tự yêu nước, tha
thiết với một lý
tưởng xã hộì nào đó, đã tạo ra biết
bao nhiêu sáng tác, biên khảo có
chiều sâu về tư tưởng, xuất sắc về giá trị văn học nghệ
thuật lại không
được đếm xỉa tới? Tôi tin chắc một ngày gần đây, sự
bất công này sẽ
được xoá bỏ, và sẽ có những người kiểm điểm
đánh giá đúng mức mảng văn
học này. Hiện ở nước ngoài, cũng có những
tác giả thi văn thuộc phong
trào tranh đấu giới trẻ thời 1964-1975 như chị Hồng Khắc Kim Mai
với
tập thơ Mắt màu nâu,
đã được phổ biến trong giới sinh viên liên khoa thời đó. Tôi đã tặng
lại chị tập thơ của chị sau khi chị định cư ở Hoa Kỳ. Tôi ước mong chị
và các bạn cùng thế hệ cũng nên có tiếng nói về vấn đề tôi nêu lên ở
trên.
Chị Hồng Khắc Kim Mai và các bạn mà chị quen biết tham gia phong trào
sinh viên thời đó có biết phong trào do Thành Đoàn (một tổ chức của
Đảng Cộng Sản) chỉ đạo, triển khai điều khiển không? Những người lớn
thời đó là nhân sĩ, trí thức được mời vào các cố vấn đoàn, chủ tịch
đoàn của phong trào sinh viên học sinh và những phong trào khác có biết
mình tham gia vào các hoạt động gọi là tranh đấu chính trị trên mặt
trận văn hóa, xã hội, giáo dục, vv... trong lòng địch do đảng chủ
trương không? Tôi là người được mời tham gia vào nhiều cố vấn đoàn, chủ
tịch đoàn của Mặt Trận Nhân Dân Tranh Thủ Hòa Bình, Lực Lượng Bảo Vệ
Văn Hóa Dân Tộc, Phong Trào Tự Trị Đại Học..., và là chủ tịch của Chủ
Tịch Đoàn của Ủy Ban Vận Động Cải Thiện Chế Độ Lao Tù Miền Nam. Tôi còn
nguyên bản “Tuyên ngôn” của uỷ ban này có danh sách đầy đủ các vị tham
gia vào các cố vấn đoàn, chủ tịch đoàn cho thấy những sinh viên trong
thư ký đoàn đã chủ động thế nào trong việc vận động và điều hành uỷ
ban. Tôi có thể phân biệt phong trào nào của Cộng Sản, phong trào nào
của người quốc gia đối lập, chống chính quyền nhưng chống Cộng, căn cứ
vào cách vận động tổ chức phong trào khác nhau, và tôi có thể phân biệt
được trong giới sinh viên mà tôi làm việc chung với họ, ai là người có
ra khu hay chịu một huấn luyện nào đó, ai là sinh viên quốc gia chỉ vì
nhiệt tình tuổi trẻ dựa vào phong cách khác nhau của họ. Tại sao tôi
biết những phong trào tôi tham gia do đảng chỉ đạo, mà vẫn tham gia?
Hơn nữa, tôi cũng có những hiểu biết do đọc sách báo nghiên cứu, tuy
chưa phải do thực tiển sống trong chế độ như sau 1975, và đã viết những
bài phê phán chủ nghĩa Cộng Sản, bị Hà Nội phản ứng dữ dội, mà vẫn tự
nguyện tiếp tay cho Cộng Sản? Đây là vấn đề không phải riêng của tôi
hay của trí thức Việt Nam, mà là chung cho trí thức trên thế giới, gồm
cả những nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng trong suốt nhiều thập niên, và
vẫn còn, ngay cả sau khi chế độ Cộng Sản sụp đổ ở Liên Xô, Đông Âu! Tôi
hy vọng sẽ Trình Bầy một vài suy nghĩ trong phần cuối tập “Nhìn Lại
Những Chặng Đường Đã Qua” này.
Ở đây tôi chỉ xin ghi lại hiểu biết của tôi thời
đó cho đến bây giờ,
tại sao đảng vận động được cả những người không thể nghi ngờ
gì được về
lập trường chính trị, như luật sư Trần Văn Tuyên,
bác sĩ Trần Ngọc
Ninh, vào danh sách quý vị tham gia cố vấn
đoàn? Tại vì sách lược vận
động quần chúng là “nghề của chàng”
và “chàng” đã thành công
ngay từ
hồi 1945. Ông Nguyễn Tường Bách bày tỏ sự cảm phục
Việt Minh khi chứng
kiến cuộc biểu tình ngày 18/8/1945. “Đâu cũng
là Việt Minh cả... Khái
Hưng vừa đi vừa nói. Tại sao? Đó là câu
tôi tự hỏi. Họ tài thật. Chúng
tôi không khỏi thầm phục.” (Việt Nam, Những Ngày Lịch Sử,
trang 69) .Theo chỗ tôi hiểu, sách lược vận động hiệu nghiệm trước hết
do biết đề ra những khẩu hiệu đáp ứng đúng với nguyện vọng của quần
chúng ở một thời điểm nhất định. Hồi 1945, khẩu hiệu là độc lập;
thời đệ nhị cộng hòa, khẩu hiệu là “hòa bình”, “chống văn hóa đồi trụy,
bảo vệ văn hóa dân tộc”, “cải thiện chế độ lao tù”, “phụ nữ đòi quyền
sống”... Những người đi vận động thuộc thành phần trẻ, trong sạch, chưa
có quá khứ để bị nghi ngờ, lại có thành tích ở tù, như những sinh viên
ở Côn Đảo về vận động thành lập Ủy Ban Cải Thiện Chế Độ Lao Tù Miền
Nam. Sau cùng, những người được mời tham gia ít nhiều đều có uy tín
trong giới của mình. Mục đích ngầm nhằm làm suy yếu, lật đổ chế độ,
nhưng mục đích công khai nhằm thể hiện những nguyện vọng thật chính
đáng, làm sao bắt bẻ được!
Tất cả các phong trào đều có báo
chí, Ủy Ban Cải Thiện Chế Độ Lao Tù
Miền Nam Việt Nam cũng có tạp chí ra hàng
tháng do giáo sư Lê Hữu Mục
phụ trách. Chẳng hạn số 5, tôi viết bài
“Dân chủ trong tầm súng Mỹ”
giáo sư Lê Hữu Mục sử dụng vốn Hán văn tán
chữ, “Luận về chữ Lao”.
Phong trào sinh viên có hẳn một trụ sở ở số 4 Duy
Tân, có thể tổ chức
những buổi nói chuyện đông người dự. Tôi cũng được
mời nói về đề tài:
“Quyền tự trị trong một quan niệm đại học tiến bộ”. Sau
đó phong trào
Tự Trị Đại Học đem in bài này, nhưng có kèm
những chú thích cho thấy
Phong Trào không đồng tình với tác giả...
Trong nội bộ ban chấp hành
chủ tịch đoàn Ủy Ban Cải Thiện Chế Độ Lao Tù, những sinh
viên trong thư
ký đoàn, chủ nhân thực sự điều hành uỷ ban,
đôi khi đưa cho tôi ký
những văn bản họ đã viết sẵn, tôi không chịu
và họ cũng đành chịu. Để
tránh gây khó khăn, tôi nhường cho linh mục
Chân Tín ký thay mặt chủ
tịch đoàn, và tiếp các người ngoại quốc, tôi
chỉ giữ việc thăm hỏi tù
nhân và thân nhân tù. Sau 1975,
ngôn ngữ trên báo chí và của
lãnh đạo
Đảng khi nhắc đến Uỷ Ban đều giới thiệu Chân Tín là
chủ tịch, và chính
linh mục cũng nhìn nhận thế. Ông còn đi xa hơn nữa
khi ông trở thành
nhân vật đối lập: “ Uỷ Ban Cải Thiện Chế Độ Lao Tù
Miền Nam Việt Nam mà
tôi đã lãnh đạo cũng chỉ là một phong
trào nhân dân tự động đấu tranh
cho một chế độ lao tù nhân đạo hơn, chớ không phải
một đoàn thể chính
trị được nhà nước hay Đảng dựng lên”.
Những người theo Đảng, hoạt dộng nội
thành, nếu lộ, bị bắt và có thể bị
tra tấn. Những vị nhân sĩ, trí thức tham gia các
phong trào, nếu có tên
trong những tổ chức đường giây của Mặt Trận Giải Phóng
cũng bị bắt và
có thể bị tra tấn, nói chung công an không
bắt lầm đâu. Còn những ai
không có tên trong các tổ chức nằm
vùng, công an để yên sinh hoạt phong
trào ở ngoài đường thì bị ngăn chận, giải
tán, nhưng ở trong nhà,
thường cũng được để yên trừ những trường hợp đặc biệt như vụ Ủy
Ban Lao
Tù tiếp nghị sĩ Mc Govern, ứng cử viên Tổng Thống.
Tôi được báo cho
biết ý muốn của phái đoàn nghị sĩ gặp gỡ uỷ ban
và tù chính trị khi ghé
Sài Gòn. Chúng tôi đồng ý và
đề nghị nơi gặp gỡ: trụ sở báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp,
đường Kỳ Đồng, mà Chân Tín làm việc. Buổi
gặp gỡ đang diễn ra, đột
nhiên có nhiều tiếng súng, hò hét
từng đợt của nhân dân tự vệ địa
phương chung quanh khu vực nhà dòng Chúa Cứu Thế.
Sự kiện bất ngờ này
đã làm cho phái đoàn Mỹ, đặc biệt ông
nghị sĩ hốt hoảng, nỗi lo sợ hiện
ra trên nét mặt. Ông chạy đi chạy lại đứng lên
ngồi xuống không yên,
như con thú bị giam trong chuồng chạy quanh quẩn tìm lối
thoát mà không
được vì tất cả các cửa ra vào đều được đóng
lại. Sau đó chúng tôi liên
lạc được với tòa đại sứ Mỹ yêu cầu họ cho xe đến
đón ông Thượng Nghị
sĩ. Trong khi chờ đợi, nếu ông có bản lãnh một
chút, vẫn có thể tiếp
tục bình tĩnh ngồi nói chuyện với chúng tôi,
nhưng buổi trao đổi đã bị
gián đoạn. Chứng kiến phản ứng của ông Thượng Nghị Sĩ,
tôi hiểu những
người làm chính trị Tây Phương kể cả các
lãnh tụ, thường sinh hoạt
chính trị trong một khung cảnh ổn định, nên tỏ ra
ít khả năng đương
đầu, thích nghi với tình huống chính trị ở
các nước ngoài Tây Phương,
dưới bất cứ chế độ nào, đều không có đảm bảo ổn
định như ở Tây phương.
Sau khi tòa đại sứ cho xe đón ông Thượng Nghị Sĩ
về, chúng tôi bị giữ
lại ghi tên, rồi cũng được cho về, không ai gặp khó
khăn gì. Ngày hôm
sau, báo chí tường thuật rộng rãi tin xảy ra ban
tối hôm trước.
Báo hàng ngày thời đệ nhị cộng hòa có trên dưới 40 tờ, Tuần báo chính
trị cũng trên dưới 10 tờ, nói chung chỉ những tờ gốc Bắc di cư không
chỉ phê bình, đả kích mà là mạt sát chửi rủa những người tham gia các
phong trào tranh đấu ở đô thị. Xin giới thiệu một vài đoạn của thứ chữ
nghĩa chửi rủa này:
“…Bộ phận chìm của Cộng Sản đứng trong bóng tối để điều khiển bộ phận
nổi gồm có bọn biểu tình thuê Huỳnh Tấn Mẫm và các đồ phụ tùng lủng
lẳng như phún bấn sinh lý Ngô Bá Thành, như Ủy Ban Cải Thiện Chế Độ Lao
Tù do một anh khùng đội lốt giáo sư cầm đầu...” (Đầu Gối, “In memoriam
Lê Khắc Sinh Nhật”, báo Hòa Bình, ngày 4/7/1971).
“Cách đây không lâu, sân khấu
chính trị miền Nam được chứng kiến thêm
một màn kịch khá đặc biệt, đó là màn
đòi cải thiện chế độ lao tù. Các
diễn viên của màn kịch này là những bộ mặt
quen thuộc của làng phù thuỷ
chính trị miền Nam: công ty phún Ngô
Bá Thành, linh mục cùi từ chân đến
đầu Nguyễn Ngọc Lan, nhà thầu lý thuyết Mát
xít lỗi thời Nguyễn Văn
Trung ... Theo các diễn viên kể trên thì miền
Nam cần phải cải thiện
chế độ lao tù (Tiêu Lang, “Viết Cho Lao
Tù”, báo Hòa Bình, ngày
2/2/1971).
“Đồng thời các sinh viên Công giáo cũng vạch mặt chỉ tên nhà buôn lý
thuyết MáC Lê Nguyễn Văn Trung và các mật vụ của Cộng Sản là ông Nguyễn
Ngọc Lan và nữ quái thai phún Ngô Bá Thành. Đúng thật là những tin mừng
cho giới sinh viên Việt Nam (báo Hòa Bình, 15/1/1971).
Tôi cũng tham gia “Lực Lượng
Bảo Vệ Văn Hóa Dân Tộc”, viết một vài
bài cho Tin Văn,
tuần báo của tổ chức này do một người nằm vùng di
cư từ Bắc vào, được Đảng chỉ định đứng ra đứng tên tờ Tin
Văn. Tờ Tin Văn
đã chọn Chu Tử như là một nhà văn tiêu biểu
của văn chương đồi trụy để
đả kích. Nhưng vì Vũ Hạnh, một đảng viên nằm
vùng trong nhóm bị lộ, nên
đã xảy ra vụ tố cáo Vũ Hạnh là Cộng Sản, và
những phản ứng bênh vực Vũ
Hạnh chỉ là nhà giáo, nhà văn gương mẩu bị
chụp mũ oan uổng. Trớ trêu
là những người lên tiếng bênh vực Vũ Hạnh là
học sinh và một số đọc giả
gốc lính thuộc các đơn vị xung kích đe dọa Chu Tử
có thể bị ăn đòn nếu
tiếp tục tố cáo Vũ Hạnh. Tờ Tin Văn không những đã
lấp liếm
trong vụ Vũ Hạnh bị nghi ngờ là cán bộ Cộng Sản mà
còn vận động được cả
trăm nhà giáo, người cầm bút hội thảo ra
tuyên ngôn kết án văn hóa đồi
trụy, có mời Chu Tử đến dự nhưng Chu Tử không đến. Sau
đó Chu Tử bị ám
sát hụt, và trong cuốn Không Hận Thù, Chu Tử
tin chắc kẻ bắn
hụt mình không phải Cộng Sản, vì tin rằng những kẻ
ám sát theo Cộng Sản
phải là những tay súng chuyên nghiệp. Rất tiếc Chu
Tử đã chết hồi 1975.
Nếu ông còn sống, được đọc sách kể thành
tích của Thành Đoàn, ông mới
thấy sự thật khác hẳn. Chính vì những toán
“quyết tử” của Thành Đoàn
chỉ là học sinh, sinh viên nên mới bắn hụt. Sau
1975, Vũ Hạnh thuật lại
nguồn gốc thành lập Lực Lượng Bảo Vệ Văn Hóa Dân
Tộc. Tôi có ghi lại
được một số trang của số Tin Văn và bài tự thuật của Vũ
Hạnh.
Dưới đây là phản ứng của Ao Thả Vịt (bút hiệu của Chu Tử) trên báo Sống:
Minh định lập trường
“…Cách đây mấy bữa, ATV trích đăng một
bài của Sài Gòn Báo, đề cập tới một đoạn
văn ‘sờ mó, cấu, véo’ trong Ca tụng
thân xác
của nhà văn Nguyễn Văn Trung, lãnh tụ của
‘cái’ gọi là ‘Lực Lượng Bảo
vệ Văn Hóa Dân Tộc’. ATV cần minh định lập trường
rằng ATV không có ý
kết án đoạn văn đó là khiêu dâm, đồi
trụy vv... ATV thành thật thẳng
thắn cho rằng nhà văn Nguyễn Văn Trung có quyền viết như
vậy và viết
như vậy có gì là đáng chỉ trích.
Nhưng sở dỉ ATV trích đăng đoạn văn trên, là
vì thấy “Lực Lượng Bảo vệ
Văn Hóa Dân Tộc” một mặt lên tiếng kết
án những nhà văn “tả chân” dám
phơi bày sự thật, trong khi chính những lãnh tụ
của Lực lượng lại ‘tả
chân’ hơn ai hết, tưởng chừng Lực Lượng muốn giành
độc quyền ‘sờ mó,
cấu, véo’ cho riêng các lãnh tụ của
mình. Cái đó hơi khó ngửi, không
thể tha thứ được.” (Ao Thả Vịt, trích báo Sống ngày 10/1/1967)
Và hai bài của Thương Sinh (bút hiệu của
Duyên Anh), sau cùng một thú nhận hối tiếc của
Thương Sinh:
Dzơ suy dzơn, in le vờ re...
Tôi đang định viết một cuốn tiểu thuyết xây dựng nhan đề Thằng Giả Hình.
Nhân vật của tôi sẽ là một dân tu xuất. Hắn đi Tây học, chẳng có cái
bằng đại học nào của nhà nước Tây cấp cả. Sống đói rách bên Tây, chán
quá, hắn về Giao Chỉ, mang theo mấy cuốn sách tư tưởng mới vừa ra lò ở
Paris. Hắn bèn đọc nhanh và viết vội, đăng báo Việt Nam. Nghiễm nhiên,
hắn trở thành một ‘ê-cờ-ri-vanh’ cộng mí lỵ ‘ê-cờ-ri-văng’ ở Giao Chỉ.
Hắn được mời đi dạy học lớp. Hắn trổ tài lơn vợ đồng nghiệp, cắm sừng
lên đầu ông giáo sư sử địa nọ. Và hắn bị đuổi khỏi trường lớn, bay vào
Sài Gòn. Về sau này khi những cuốn sách bên Tây qua Giao Chỉ, người ta
bèn khám phá rằng những tư tưởng mới của hắn chỉ là bịp. Hắn nhất định
làm anh hùng. Hắn đem cái mác Cộng Sản trường lớn của hắn ra chiêu mộ
những người trẻ tuổi bất bình thời thế để bàn về một chính sách tương
lai. Hắn huênh hoang nói dóc và đảng viên đảng kiểm tục văn nghệ.
Tôi mà nói dối, cả nhà tôi chết, trong
bộ trường thiên tiểu thuyết Giữa Dòng Nước Lũ
của tôi sắp viết, tôi sẽ đề ra một cuốn để viết về bọn
tân giả hình.
Trong kinh thánh, Chúa đã sỉ vả bọn giả
hình thế nào thì tôi sẽ sỉ vả
bọn giả hình, bọn phù thuỷ lừa gạt tuổi trẻ như thế. Nếu
cuốn Thằng Giả Hình trong bộ Giữa Dòng Nước Lũ
của tôi thành công, tôi sẽ mang ơn gi&aa