Nhìn lại những chặng đường đã qua

Nguyễn Văn Trung


   2    3    4    5    6    7   8

VI
In Memoriam Việt Nam Cộng Hòa
Nguyễn Văn Trung

“… Nhìn lại những chặng đường đã qua để ghi đôi nét nhận định về những chế độ mà tôi đã sống trong niềm hy vọng những thế hệ sau sẽ không phải chịu đựng những khó khăn thử thách mà các thế hệ đi trước đã gánh chịu …”

Nhìn lại những chặng đường đã qua về sinh hoạt cầm bút từ 1955 đến 1975, những gì tôi viết ra đã gây nhiều phản ứng phê phán, mạt sát, vu khống, mạ lị cá nhân. Nói tóm lại tôi đã bị chửi, chửi thật tình và giả vờ. Chửi thật tình xuất phát từ những động cơ, lý do cá nhân bực bội, oán giận; còn giả vờ chửi vì cá nhân người viết không quen biết, không có bất cứ một liên hệ nào với tôi, sở dĩ viết sách báo là do đường lối chính sách buộc phải làm, thế thôi. Hai hoàn cảnh viết phản ứng khác nhau. ở miền Nam những người viết bộc lộ rõ rệt cái tôi, cái ngã của mình, còn ở miền Bắc người viết chỉ cho thấy cái vô ngã của cả một chế độ.

Nhưng tìm hiểu những luận điệu đả kích, mạt sát, tôi lại thấy có nhiều điểm thật giống nhau trong ba giới người viết mang danh Công giáo, Phật giáo, Cộng sản.
Xin nêu ra hai luận điệu chính sau đây:

1. Phê phán đả kích quan niệm tương đối về biểu lộ chân lý. Nói cách khác, chân lý khách quan không thể tránh được diễn tả bằng những lối nhìn chủ quan, tùy theo những hoàn cảnh cảm nhận. Luận điệu của Linh mục Trần Văn Hiến Minh về triết học và của nhóm Văn Đàn (gốc Công giáo) về nền tảng đạo lý của văn học hay nghệ thuật xem ra chẳng có khác gì mấy với luận điệu của các ông Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Hoàn nhân danh lý thuyết Mác xít chính thức và chánh thống.

2. Chủ trương một luân lý tất yếu về sự tùy thuộc không thể chối cãi được của những sinh hoạt văn hóa tư tưởng gắn bó với một chế độ chính trị, xã hội nhất định. Luận lý của Nguyễn Văn Hoàn nhân danh Mác xít đã được Tạ Trọng Hiệp lược tóm đúc kết thành tam đoạn luận giống hệt như luận lý của những người mang danh Phật giáo trong tuần báo Chân Trời Mới kết án tôi là nhà triết học của chế độ Ngô Đình vì tôi được tự do ăn nói trong khi những người theo Phật giáo buộc phải im lặng.

Những người mang danh tôn giáo hay ý thức hệ có tính chất tôn giáo khác nhau, thậm chí chống đối nhau đến nỗi không đội trời chung, sử dụng hai luận điệu kể trên, thật ra cũng chung một đặc điểm căn bản: đồng hóa tôn giáo, ý thức hệ có tính chất tôn giáo, lãnh vực, niềm tin của những tập thể mang danh các tôn giáo, ý thức hệ với triết học, hiểu như một sinh hoạt suy luận trí thức thuộc một lãnh vực riêng biệt, ít nhiều độc lập với các tôn giáo hay ý thức hệ có tính chất tôn giáo.

Đối với những người mang danh Phật giáo phê bình đả kích tôi, Phật học không thể tách rời Phật giáo, và hơn nữa, những người không tin theo đạo Phật mà nói, viết về Phật giáo, không thể hiểu được Phật giáo như người theo đạo hiểu; do đó chỉ có thể nói sai, xuyên tạc và còn có những ý đồ xấu đối với Phật giáo.

Những người Công giáo như Linh mục Trần Văn Hiến Minh kết án tôi rối đạo, khuyến cáo người Công giáo, đặc biệt chủng sinh đại chủng viện không nên đọc tôi vì vẫn bám vào quan niệm từ thời trung cổ coi triết học chỉ là “đầy tớ gái của thần học”.

Những người nhân danh Mác xít, Cộng sản phê phán tôi xuyên tạc chủ nghĩa Mác, coi chủ nghĩa Mác là của riêng thuộc quyền sở hữu của đảng, nhất là của đảng đang cầm quyền, trong khi đối với chính Marx, ngay những chủ nghĩa mang danh nghĩa Mác xít cũng không phải của riêng thuộc độc quyền của Marx vì Marx đã khẳng định “tôi không phải người Mác xít”.

Truyền thống phân biệt triết học và tôn giáo, hay ý thức hệ mang tính chất tôn giáo không những đã được thể hiện ở Tây phương mà ở cả nhiều nơi ngoài văn hóa Tây phương. Sự phân biệt nầy là một kế thừa những thành quả cách mạng 1789 tách triết học ra khỏi tôn giáo, tách giáo hội ra khỏi nhà nước và một cách tổng quát, tách khu vực công cộng với khu vực tư trong đó có tôn giáo. Nhà nước không xóa bỏ, hay ngăn chận hạn chế hoạt động tôn giáo, mà chỉ đề ra những thể chế, biện pháp, pháp lý chống lại ước muốn chi phối khống chế khu vực công của tôn giáo.

Việt Nam, đặc biệt miền Nam đã có thời gian gần 100 năm là đất bảo hộ thuộc địa của người Pháp. Khi người Pháp ra đi, một trong những điều tích cực của họ để lại là một số thể chế nhà nước, cụ thể là một nền hành chánh và một giới công chức được đào tạo theo tinh thần phân biệt tôn giáo và nhà nước. ở miền Bắc sau 1955, giới công chức cũ nầy đã dần dần bị lớp cán bộ thay thế, nhưng ở miền Nam họ vẫn tiếp tục được trọng dụng cho đến 1975.

Về trình độ văn hóa, nói chung công chức cấp dưới có học qua tiểu học thời Pháp hay trung học thời Việt Nam Cộng Hòa, và cần lưu ý là họ có trình độ văn hóa (sau khi tốt nghiệp bằng tiểu học đã có thể làm thơ tiếng Pháp). Sự kiện biết tiếng Pháp, không phải chỉ là điều kiện để công chức giao dịch được với người Pháp là chủ nhân của họ mà còn là điều kiện thuận tiện cho phép họ tiếp cận với các thông tin thế giới, mở rộng tầm hiểu biết của họ. Còn những người công chức cao cấp, có trình độ học vấn tối thiểu là tú tài hay tốt nghiệp đại học. Trong quân đội ngay từ những khóa hạ sĩ quan Nam Định hồi 1951-52 đến các khóa học của trường Võ Bị Đà Lạt, Nha Trang, Thủ Đức hồi đầu thời đệ nhất cộng hòa cũng đã dần dà tạo được một giới sĩ quan có trình độ tú tài hay đại học không hề mặc cảm là lính đánh thuê của quân đội viễn chinh, trái lại họ có được một điều mà nền đệ nhất cộng hòa đã tạo cho họ đó là một bản sắc, một căn cước quốc gia (identité nationale).

Trong 20 năm từ 1955 đến 1975, đặc biệt thời đệ nhị cộng hòa có nhiều xáo trộn thay đổi chính phủ, nhưng thực ra chỉ thủ tướng, bộ trưởng, tổng giám đốc, giám đốc thay đổi còn guồng máy hành chính do các trưởng phòng chủ sự điều hành vẫn chạy đều như không có gì xẩy ra.

Dù ở cấp ngạch nào, giới công chức đều ít nhiều giữ được phong cách công chức, tức là ý thức được thế nào và cái gì là công của mọi người, quốc gia và ít nhiều hấp thụ giữ được tinh thần phóng khoáng tự do của văn hóa Pháp dù trong chỗ riêng tư họ theo đạo nọ đạo kia hay không theo đạo nào.

Hồi năm 1990 tôi thiết lập một thư mục những gì tôi đã viết trong thời gian 20 năm, thời Việt Nam Cộng Hòa, tôi tự hỏi: làm sao tôi có thể viết được nhiều như vậy mà thực ra không gặp khó khăn phiền hà gì do người cầm quyền gây ra, hoặc sâu xa hơn nữa không bao giờ tôi cảm thấy lo ngại về an ninh của bản thân hay gia đình. Nỗi bận tâm chỉ là viết cái gì đây, hay là viết thế nào, không phải là có thể viết được không. Tôi thấy ngay giải đáp: nhờ phong cách trí thức của giới công chức của những người điều hành ba bộ liên hệ với sinh hoạt văn hóa tư tưởng: bộ văn hóa giáo dục, bộ thông tin và bộ nội vụ, cảnh sát an ninh và một cách tổng quát, nhờ phong cách trí thức của giới hành nghề tự do, đặc biệt giới trí thức và kể cả giới quân đội. Đại bộ phận công luận của các giới trí thức nầy không phải tán thành tất cả những gì tôi viết, phê phán, nhưng chỉ bày tỏ thái độ chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt. Nếu VNCH bị Công giáo trị, Phật giáo trị, mà những người mang danh nghĩa Công giáo, Phật giáo tố cáo, kết án tôi đã bộc lộ xu hướng tôn giáo trị của họ, làm sao tôi được tự do giảng dạy ở đại học và xuất bản sách báo theo ý muốn của tôi?

Do đó có thể kết luận, có tình trạng chậm tiến về mặt sinh hoạt trí thức của một bộ phận các tôn giáo (Công giáo, Phật giáo) ở miền Nam VN so với tình trạng phát triển của các nước phương Tây, so với tình trạng tương đối tiến bộ của giới công chức cầm quyền thời Việt Nam Cộng Hòa, và tình trạng tiến bộ của đại bộ phận trí thức trong các tôn giáo lớn ở miền Nam.

Sau 30-04-75 Việt Nam thống nhất theo đường lối của miền Bắc, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thay thế Việt Nam Cộng Hòa và do đó guồng máy hành chánh cùng với giới công chức của nó bị dẹp bỏ. Sĩ quan và viên chức cao cấp đi học tập cải tạo mặc dầu những năm đầu sau 1975, thành ủy Sài Gòn đã đánh giá viên chức sĩ quan quân đội cũ, người Việt gốc Hoa và người Công giáo là ba thành phần, xây dựng lại thành phố, miền Nam Việt Nam. Phải đợi đến thời kỳ gọi là đổi mới, mới thấy những thay đổi đôi khi không kèn không trống, tuy bản thân sự việc đủ nói lên hướng thay đổi. Chẳng hạn giải nhất huy chương vàng, liên hoan ảnh nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ mười một năm 1995. Đây là ảnh một bà già có đeo thánh giá, tay cầm chuỗi hạt, dắt một cháu gái, ghi chú: Hành trình đến tương lai không thể tách rời dấu chân của quá khứ. Ban giám khảo và sau đó người xem không ai thắc mắc về cỗ tràng hạt, cây thánh giá vì ai nấy đều như thể đồng tình với nhau; tách rời nghệ thuật khỏi tôn giáo và những quy định chính trị về tôn giáo. Hồi năm 1994, có công bố pháp lệnh về cải tổ hành chánh, bãi bỏ qui chế cán bộ, phục hồi ngạch công chức, thi tuyển công khai, tăng ngạch trật dựa vào khả năng chuyên môn, thâm niên v.v... như của Sài Gòn, miền Nam VN trước 1975. Như vậy phải chăng đổi mới chẳng qua là trở về những cái cũ bị phủ nhận?

Những người đã sống ở miền Nam trước 1975, ở lại sau 75, mới cảm nhận thấm thía những mất mát. Có những lúc tưởng chừng chế độ chính trị xã hội đã duy trì được những mặt tích cực, cần thiết cho cuộc sống bình thường cho người dân và ngay cả cho người trí thức suy nghĩ cầm bút lý luận hay sáng tác, đã vĩnh viễn bị chôn vùi vào trong quá khứ ở miền Bắc sau 1955 và ở miền Nam sau 1975. Nhưng rồi hy vọng chớm nở khi thấy những mặt tích cực bị xóa bỏ dần dà được khôi phục. Với thế hệ những người bước vào tuổi 70 có thể không hy vọng gì, chứng kiến ngày những mất mát hoàn toàn được phục hồi và còn được cải thiện hoàn chỉnh hơn vì trình độ dân trí nói chung và trình độ nhận thức của các giới lãnh đạo, điều hành khu vực công, tư, tương lai thực sự được nâng cao.

Nhìn lại những chặng đường đã qua để ghi đôi nét nhận định về những chế độ mà tôi đã sống trong niềm hy vọng những thế hệ sau sẽ không phải chịu đựng những khó khăn thử thách mà các thế hệ đi trước đã gánh chịu.

Một lối nhìn sai lệch về Miền Nam

Tôi muốn nói thêm đôi điều về lối nhìn miền Nam của mấy nhà văn miền Bắc như Dương Thu Hương. Họ là những tác giả, nếu tôi không nhầm, đã sinh ra lớn lên trong chế độ, ít hiểu biết miền Bắc trước năm 1954 và không biết gì miền Nam trước 1975. Ngay cả nhiều người sau 75 vào sống ở Sài Gòn cũng có cái nhìn sai lệch về miền Nam chỉ vì họ không sống ở miền Nam, đặc biệt giai đoạn 55-75.

Tôi bắt đầu làm việc ghi nhận nầy từ những năm đầu thập niên 90, duy có cái nhìn về Dương Thu Hương cần được điều chỉnh, vì nhà văn nầy đã có những chuyển biến mới. Nhưng vì không sống ở trong nước để có được những thông tin đầy đủ, chính xác, nên tôi tạm bỏ ngỏ những nhận định về nhà văn nầy và mong được những người khác hiểu biết đầy đủ, chính xác hơn điều chỉnh giùm.

Tuy nhiên, đọc những bài của nhà văn nầy đăng trên báo hải ngoại gần đây tỏ vẻ khinh miệt, mạt sát chế độ mà trước kia bà đã nhân danh nó, hãnh diện về nó để khinh bỉ, mạt sát VNCH, tôi rất khó cảm nhận tư cách người cầm bút, viết văn, đặc biệt việc bà đi nhận giải thưởng, một giải thưởng xuất phát ít nhiều từ thái độ giả hình chính trị của một chính thể trong quá khứ đã chà đạp nhân quyền, tự do của cả dân tộc mình và bây giờ chẳng qua chỉ sử dụng mục tiêu bênh vực nhân quyền ít nhiều như một chiêu bài chính trị.

Không trách gì được các tác giả trẻ tuổi này, vì những người lớn tuổi như ông Nguyễn Khắc Viện, đã đi đây đi đó, sống nửa đời người ở miền Bắc, cũng hiểu sai miền Nam. Ông Nguyễn Khắc Viện viết một bài về miền Nam trên báo Nhân Dân so sánh Cách mạng và dân Sài Gòn như sen và bùn, bị phản ứng dữ dội (1). Nguyễn Vô Kỷ và Nguyễn Trọng Văn ở trường Đại học Văn khoa có gửi bài phê bình cho báo Nhân Dân, không được đăng. Ông viết bài thứ hai cũng đăng trên Nhân Dân, lần này đụng chạm đến những người Cộng sản miền Nam, sau đó Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh cũng gián tiếp trả lời ông trên báo Nhân Dân.

Ông Đào Duy Anh vào Sài Gòn đi thăm một số trí thức đã bị chỉnh một cách thẳng thắn khi ông gọi “thằng Diệm”. Ở miền Nam, trên sách báo công khai, khi nói đến những lãnh tụ ở Hà Nội, bao giờ cũng gọi đúng chức vụ và đăng hình thật, không phải hí họa... Đây là vấn đề văn hóa, tư cách, không phải lập trường chính trị. Nói đến đời sống chính trị của miền Nam trước 75, ông Đào Duy Anh cũng hiểu sai và ông thú nhận vì bao nhiêu năm đã chỉ được thông tin một chiều.

Như tôi đã trình bày trong phần trên, cần phân biệt: chính phủ - chính thể chính trị với chế độ xã hội miền Nam. Tôi thấy:

1. Chế độ xã hội miền Nam còn giữ được một số giá trị tinh thần, đạo lý thuộc truyền thống dân tộc.

2. Thời Pháp thuộc, miền Nam tiếp thu một số giá trị về dân chủ mà miền Bắc chưa có. Chẳng hạn đạo Cao Đài đã chỉ có thể có được ở miền Nam do những viên chức làm việc cho Pháp hiểu biết những lợi thế của qui chế hành chính thuộc địa và biết khôn khéo sử dụng nó. Người Pháp không lập ra Cao Đài như một dư luận vẫn hiểu vì tài liệu an ninh của người Pháp xác nhận Cao Đài là một thứ quốc gia trong một quốc gia... họ có thể cấm Cao Đài ở Cao Miên, Bắc, Trung Kỳ, mà không thể cấm ở Nam Kỳ.

3. Thời kỳ người Mỹ có mặt ở miền Nam (1955-75) mà miền Bắc gọi là thời kỳ Mỹ xâm lược, thực dân mới, những biểu hiện dân chủ càng rõ nét và phổ biến đã có bị chê chỉ là hình thức, nhưng vẫn là hình thức có thực mà miền Bắc không có. Báo chí, phong trào tranh đấu thân Cộng hoạt động công khai tuy có bị đàn áp, nhưng vẫn tồn tại phát triển vì dựa vào một số đòi hỏi dân chủ mà các chính quyền Sài Gòn vẫn ít nhiều tôn trọng như tự trị đại học. Những tổ chức, phong trào chống Cộng hoặc đối lập chỉ chống chính quyền Sài Gòn tố cáo đích danh Tổng thống mà không chống chế độ xã hội chính trị miền Nam vì chế độ cho phép làm. Những tổ chức, cá nhân thuộc các tôn giáo, giới báo chí, luật sư, đối lập xuống đường biểu tình, cũng bị đàn áp như ở các nước phương Tây không phải bằng súng, mà chỉ bằng lựu đạn cay... một điều không thể quan niệm có thể làm lại được sau 75.

Xét về cá nhân, có thể kể trường hợp Phan Nhật Nam viết ký chiến trường, kể lại tác giả gọi điện thoại nói chuyện với người chỉ huy quân sự phía bên kia thách chửi cố vấn Liên Xô sau khi nghe tác giả chửi cố vấn Mỹ, hoặc trường hợp Thanh Lãng biên thư phản đối tòa Đại sứ Mỹ. Tôi và Thanh Lãng đi Vũng Tàu về, gặp xe chở lính Mỹ đùa nghịch ném đá bể kính xe. Tôi gợi ý Thanh Lãng viết thư phản đối, sau đó chúng tôi nhận được thư mời đến tòa Đại sứ nhận lời xin lỗi và tiền bồi thường. ở Hà Nội, ai dám nghĩ làm như vậy với tòa Đại sứ Liên Xô hay Trung quốc. ở Sài Gòn, tất cả những biểu lộ dân chủ đó, không ai coi là “anh hùng, can đảm” vì chế độ chính trị xã hội miền Nam để cho có thể làm như vậy.(2)

Cung Trầm Tưởng kể cho tôi nghe hồi 1968, Thanh Nghị vào khu, anh nói với Tướng Kỳ cho phép anh lo liệu đưa chị Tâm Vấn vào ở khu cư xá không quân Tân Sơn Nhất. Thỉnh thoảng Tướng Kỳ gặp anh hỏi thăm: Chị Tâm Vấn có khỏe không? Có được tin gì của anh ấy không? Những cách xử sự như vậy đều được coi là bình thường, không ai thắc mắc đặt thành vấn đề gì. Một ông tướng bị miệt thị gọi là cao bồi, võ biền, đang làm thủ tướng mà vẫn giữ được phong cách kể trên: chỉ sau 75, những nếp sống bình thường như vậy bị xóa bỏ, phủ nhận mới thấy ý nghĩa, giá trị của chúng.

Đọc tập ký của cô Fallaci (3) mà một phần lớn dành cho những tranh luận giữa nữ ký giả nổi tiếng này với hai tướng Kỳ, Loan về những hành động chính trị của hai người, đặc biệt vụ tướng Loan bắn chết Việt cộng ở chợ Bến Thành. Tôi phải nói thật là đọc xong cuốn này, chắc người Sài Gòn cũng như tôi không thể không nghĩ lại thái độ coi thường, khinh miệt hai ông, còn độc giả miền Bắc chắc còn ngạc nhiên hơn. Làm sao một tên cao bồi hay một tên sát nhân lại có được những suy nghĩ riêng tư, sâu sắc và lý sự đã thuyết phục được cô ký giả kia? Làm sao họ có thể bộc trực nói lên tâm tư của mình một cách công khai không cần e dè gì, dù đang giữ những chức vụ lãnh đạo? Dân chủ là gì nếu không phải là khả năng được bày tỏ những riêng tư về tư tưởng, tình cảm, ngay cả trường hợp đang cầm quyền?

Đọc Tiểu Thuyết Vô Đề và Tự Bạch của Dương Thu Hương, tôi thấy mấy điểm chính sau đây:

1. Dương Thu Hương cho rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước, nằm trong truyền thống chống xâm lược của người Việt và Dương Thu Hương hãnh diện tham gia cuộc chiến đó chống lại những tội ác của đế quốc Mỹ xâm lược và ngụy quyền Sài Gòn, tay sai bán nước. Công giải phóng miền Nam là của Đảng, miền Bắc.

2. Quân đội Sài Gòn là một quân đội tàn bạo. “Bọn thám báo không phải chỉ hiếp 6 người con gái miền Bắc thuộc một đơn vị thanh niên xung phong hay binh trạm nào đó, mà còn xẻo vú, cửa mình của họ ném vung vải khắp đám cỏ xanh” (trang 16). Khi thuật lại bộ đội miền Bắc hạ sát ba tù binh miền Nam, Dương Thu Hương không bày tỏ phẫn nộ, coi như thuộc qui ước của chiến tranh mà thôi.

3. Chính quyền Sài Gòn, Ngô Đình Diệm cũng tàn nhẫn “khủng bố” những người kháng chiến cũ, phân loại treo bảng từng gia đình cách mạng để trả thù.

4. Tiểu Thuyết Vô Đề không phải viết cho hải ngoại, cũng không phải để bày tỏ sám hối của một con Việt cộng, của một kẻ đã từng là đảng viên Cộng sản mà chỉ để tố cáo những kẻ phản bội cách mạng trong hàng ngũ cách mạng: “Lý do duy nhất thúc đẩy mọi suy nghĩ hành động vẫn là luôn luôn hướng về chủ nghĩa xã hội đích thực”.

5. Những kẻ phải sám hối là chính quyền miền Nam và những kẻ ủng hộ chính quyền chống Cộng đó, việc xuất bản Tiểu Thuyết Vô Đề và Tự Bạch ở hải ngoại là do bọn chống Cộng cực đoan lợi dụng mà thôi, những người mà bà khinh bỉ gọi là “bọn chó”.

Tôi cảm phục thái độ của Dương Thu Hương, không phải vì đã can đảm tố cáo những sai lệch của Đảng mà vì, mặc dầu những sai trái của Đảng, vẫn khẳng định quyết tâm hướng về chủ nghĩa xã hội đích thực, lý tưởng mà tác giả đã nhân danh để tố cáo kết án những sa đọa. Tôi tôn trọng những tự do lựa chọn nhưng không thích bất cứ một thứ “conversion” nào từ bỏ lý tưởng mà mình đã tin theo phục vụ, trừ trường hợp kẻ “trở lại” thực hiện một “vượt qua” theo nghĩa của Hegel (vượt mà vẫn giữ cái tích cực của cái bị vượt qua) như Ignace Lepp, một đảng viên Cộng sản trở thành linh mục, không mạt sát các đồng chí cũ và vẫn giữ lại những cái tích cực của chủ nghĩa Cộng sản đặt nó trong một lý tưởng bao quát tích cực hơn.

Tôi thấy thái độ của Dương Thu Hương bày tỏ một mâu thuẫn về nhận thức chính trị. Chủ đề cuốn truyện đã được trình bày trong Tự Bạch là: sau một chiến thắng mà tác giả chỉ được một con búp bê mang về làm quà cho con, tác giả đau xót nhận ra biết bao hy sinh mất mát để trả giá cho một vinh quang khải hoàn môn chỉ là mộng tưởng, giả trá... Đau xót làm cho tác giả nghi ngờ mục tiêu cuộc chiến mà bây giờ mới thấy. Vậy đáng lẽ tác giả phải đi xa hơn tìm hiểu “thực chất của chiến tranh cách mạng” thì đã dừng lại tiếp tục tuyên xưng những khẩu hiệu, luận điểm về cách mạng giải phóng mà tác giả đã học được trong trường, các buổi học chính trị, trường dạy Việt Nam, dựa trên quan niệm phân biệt bạn/thù dứt khoát, chính/tà rõ rệt và đảng cách mạng, chủ nghĩa Marx Lénine là chân lý tuyệt đối, còn mọi ý thức hệ là tà, địch, mọi tổ chức khác đều là địch cần phải bôi đen, tiêu diệt. Đoạn tác giả viết về bọn thám báo cho thấy rõ tác giả không biết chút gì về quân đội miền Nam vì thám báo chỉ đi nắm tình hình, và thấy có thể bị lộ phải tìm cách ẩn núp chạy trốn. Thôi thì hãm hiếp, xẻo vú còn nghe được, nhưng làm sao xẻo cả cửa mình vứt vung vãi. Tác giả viết về miền Nam, quân đội Sài Gòn giống Tố Hữu trong một bài thơ tả lính ngụy đập bụng đàn bà mang thai làm phọt hài nhi ra để tố cáo cái dã man của lính ngụy... Tác giả chưa nhận ra lối nhìn đánh giá miền Nam, quân đội Cộng hòa xuất phát từ những luận điệu về cách mạng giải phóng mà bây giờ tác giả thắc mắc, nghi ngờ nên mới bày tỏ thái độ thù ghét người lính Cộng hòa và khinh miệt miền Nam trong tác phẩm của mình.

Tôi nghĩ những người lãnh đạo chính trị, đề ra sách lược chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc hiểu rất rõ những giá trị về tình người, tinh thần, đạo lý mà người miền Nam, kể cả người lính vẫn còn tôn trọng... vì nếu thực sự người lính miền Nam chỉ có thú tính man rợ, tàn bạo như tuyên truyền mà Dương Thu Hương đã được nghe, học, làm sao có được chính sách dân vận, binh vận lợi dụng lòng yêu nước, tình nghĩa (tình nghĩa đồng bào, gia đình, họ hàng xóm làng, bạn bè) và coi trọng những tình nghĩa đó hơn lập trường chính trị?

Có bao nhiêu tướng tá Sài Gòn đã xử sự như chuẩn tướng Quảng, anh rể Trần Quang Long đã cho nhà thơ này tá túc trong nhà mặc dầu biết em vợ mình hoạt động cho Việt cộng? Có biết bao báo cáo thành tích vận động đồng bào, bà con cô bác đấu tranh chính trị với binh lính ngụy để ngăn chặn những cuộc hành quân lùng bắt Việt cộng mặc dầu những người chỉ huy và ngay cả binh lính ngụy cũng hiểu rất rõ đó là thủ đoạn dân vận, binh vận mà họ vẫn đành chịu thua? Làm sao đài phát thanh Hà Nội, Giải Phóng có thể khai thác thơ văn đầy ắp tình người, viễn mơ, lãng mạn, phản chiến của những nhà thơ, nhà văn quân đội Cộng hòa đôi khi đăng trên sách báo của quân đội, nếu quân đội không để cho binh lính, sĩ quan của mình được tự do làm văn thơ theo lương tâm con người của họ, vượt lên trên những bổn phận, nghĩa vụ cầm súng? Chính vì chế độ xã hội miền Nam ít nhiều tôn trọng tự do cá nhân bộc lộ tư tưởng, tâm tình mà miền Nam mới có những nhà văn được ông Tố Hữu đánh giá miền Bắc không thể có.

Chế độ xã hội miền Nam trước 75 cũng để cho những người cầm bút giới thiệu giải thích theo lối nhìn của những trào lưu tư tưởng văn học nghệ thuật nước ngoài bất kể quan điểm ý thức hệ, tôn giáo, xuất xứ dân tộc, quê hương của họ, nhất là những người được cả thế giới nhìn nhận vì sự nghiệp của họ là gia tài chung của nhân loại. Như vậy, dĩ nhiên đã có những lối nhìn giải thích khác nhau, phê phán nhau, nhưng không ai cấm ai được kể cả chính quyền Sài Gòn.

Nguyễn Huy Thiệp trả lời phỏng vấn của báo Libération có nói: “Tôi không có quyền đi ra nước ngoài và có quá ít tác phẩm hiện đại Tây phương được dịch ra ở Việt Nam, ngay cả Sartre cũng bị cấm vì bị coi là “tư sản”. Thế nhưng trước đây ở miền Nam, dưới chế độ Thiệu, Sartre đã được dịch và phổ biến. Tôi hy vọng sẽ có thay đổi vì khi cô lập văn hóa Việt Nam, người ta sẽ làm nó ngộp thở mà chết, Sartre hay Hermann Hess thuộc về văn hóa chung của nhân loại”.

Ở miền Nam, không phải chỉ Sartre, Camus được giới thiệu phổ biến mà cả những Dostoievsky, Tolstoi, Gorki, Lỗ Tấn được miền Bắc xưng tụng, cũng được những người cầm bút ở miền Nam xưng tụng theo quan điểm của mình; nói chung những người làm văn học giới thiệu tất cả các tác giả Việt Nam (kể cả của miền Bắc) thế giới mà không quyền lực nào buộc họ phải lựa chọn (chỉ được nói người này,không nói người kia. Tất cả sinh hoạt văn hóa kể trên không ai thắc mắc đặt thành vấn đề hoặc tìm cách ngăn chặn, cấm đoán, chỉ đạo vì ai cũng nhìn nhận việc giới thiệu này là một đòi hỏi chính đáng, cần thiết. Sinh hoạt này không ăn nhằm gì tới các chính quyền Sài Gòn và vẫn có trước từ lâu chính quyền ông Thiệu.

Nếu chính quyền Sài Gòn bị miền Bắc kết án là ngụy, độc tài mà vẫn để sinh hoạt văn hóa kể trên tồn tại phát triển thì điều này phải chăng chứng tỏ những chính quyền độc tài đó đã ít nhiều vẫn tôn trọng những nếp sống giá trị tinh thần đạo lý của chế độ xã hội miền Nam và trên phương diện tự do phổ biến, giao lưu văn hóa, nếu so sánh chế độ chính trị ở miền Bắc không phải với chế độ xã hội miền Nam, và mà với các chế độ chính trị Diệm-Nhu, Thiệu-Kỳ-Hương... thì chế độ chính trị nào tôn trọng tự do hơn?

Nếu so sánh các chế độ, chính quyền Sài Gòn với nhau, chế độ ông Diệm có nghiêm ngặt hơn. Việc phổ biến thuyết hiện sinh, đặc biệt hiện sinh vô thần, bị nhóm Văn Đàn tố cáo là “giới thiệu nếp sống buông thả phi luân, có hại cho tinh thần chống Cộng” sau khi xảy ra vụ đảo chính hụt hồi 1960. Tôi và nhóm Sáng Tạo bị chụp mũ là tiếp tay cho nhóm phản loạn làm đảo chính. Tâm tình luận điệu của nhóm Văn Đàn tố Cộng nào khác gì tâm tình luận điệu Cộng sản ở miền Bắc? Rất may Văn Đàn chỉ là một thiểu số người cầm bút bị đa số người cầm bút và độc giả coi thường. Nhóm Văn Đàn rất thân cận với Phủ Tổng thống, nhưng chính những người cầm quyền thời đó như ông Ngô Đình Nhu, bác sĩ Trần Kim Tuyến, Lý Trung Dung lại không phải là người có cái nhìn thiển cận, hẹp hòi về sinh hoạt văn hóa. Luận điệu chụp mũ tố Cộng một cách hạ cấp rẻ tiền, ấu trĩ trình bày hình ảnh về người Cộng sản mà người miền Nam gọi là “tâm lý chiến” thường chỉ gây phản tác dụng có lợi cho người Cộng sản vì dư luận, kể cả chống Cộng, chẳng những không tin mà còn coi lối tuyên truyền đó xúc phạm đến nhân cách, trình độ nhận thức chính trị của mình.

Ai đã sống ở miền Nam thời kỳ 1955-75 đều thấy thái độ nghi ngờ, coi thường người cầm bút nào nói viết ít nhiều giống luận điệu nhà nước, luận điệu chính thức. Nguyên Sa khi lên tiếng binh vực chúng tôi nhân vụ Văn Đàn đã viết: “Nói lên dù biết rằng sẽ gặp áp lực trở ngại, dù sẽ bị xuyên tạc, phỉ báng lăng mạ đấm vào lưng bởi một loài bò sát quen luồn tránh sự thực” (4).

Thời đệ nhị cộng hòa, còn phóng khoáng hơn nữa, không phải chỉ giới thiệu văn học thế giới mà cả những tác giả mác-xít. Tạp chí Đất Nước ra một số đặc biệt kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng 10. ở Đại học Văn khoa, tôi giảng về Marx, Lénine, sử dụng các bản dịch của Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội, in ra làm tài liệu tham khảo. Những sinh viên thân Cộng, Cộng sản nằm vùng phụ trách ấn loát phổ biến. Có lúc tôi được mấy đại học quân sự, chiến tranh chính trị và Đà Lạt hay trường Cao đẳng Quốc phòng ở Sài Gòn mời nói về Marx Lénine. Tôi mang những bài giảng, tài liệu đã phổ biến ở Đại học Văn khoa đưa ban ấn loát các trường kể trên in lại làm tài liệu và tôi cũng đã nói như đã nói ở Văn khoa. Mấy ông tướng chỉ huy trưởng đã không ngại mời những người được gán cho nhãn hiệu: khuynh tả thiên Cộng trình bày lối nhìn của họ khác lối nhìn chính thức về chủ nghĩa Marx, đảng Cộng Sản Việt Nam... vì họ có bản lãnh và tin tưởng trình độ nhận thức của học viên, tôn trọng tự do tìm hiểu của họ. Thực ra nếu họ không được nghe tôi nói ở trường thì họ vẫn có thể đọc sách báo tiếng Việt hay tiếng nước ngoài được phổ biến rộng rãi ở Sài Gòn để tìm hiểu những vấn đề mà họ muốn biết.

Xin nói rõ thêm, những sĩ quan theo học các trường đại học quân sự hay bạn bè cùng lứa tuổi với họ ở các đơn vị hành chính, ngoài mặt trận đều được đào tạo trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa từ 1954-55, không dính líu gì tới quân đội Pháp-Việt và thông thường họ có tú tài, ngay cả đã theo học đại học. Nhờ một nền giáo dục cởi mở, một chính sách thông tin không hoàn toàn bưng bít, và nhờ biết đọc một hai sinh ngữ nên họ có khả năng tìm hiểu các vấn đề Việt Nam và quốc tế ngoài những khuôn khổ của nhà nước, của những luận điệu chính thức. Họ có thể khuynh tả, khuynh hữu nhưng không ai coi miền Nam chỉ là vùng bị Mỹ ngụy tạm chiếm, mà là một chế độ chính trị mang tên Việt Nam Cộng Hòa, khác với chế độ chính trị ở miền Bắc mang tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong một đất nước tạm thời bị chia cắt có hai chế độ chính trị khác nhau. Sự kiện này được miền Bắc chính thức nhìn nhận khi ký vào các văn bản hiệp ước quốc tế về Việt Nam. Về nhận thức chính trị, họ không có mặc cảm theo Tây theo Mỹ, và hiểu biết lý do, mục đích họ cầm súng để bảo vệ một chính nghĩa, mà họ cho rằng một phần giới lãnh đạo chính trị, quân sự của họ, vì thiếu tư cách, khả năng, và những đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa, dư luận quốc tế vì quyền lợi quốc gia, chiến lược toàn cầu hay vì thiếu thông tin trung thực, đã làm lu mờ hoặc xuyên tạc chính nghĩa của họ, tạo ra hình ảnh thiên kiến về một quân đội bù nhìn, tay sai...

Trong Tự Bạch, Dương Thu Hương cho biết bà viết Tiểu Thuyết Vô Đềkhông phải vì sám hối mà chính những kẻ đã “treo đèn kết hoa, dàn kèn đồng ra các hải cảng và phi trường chào đón những binh đoàn lính Mỹ, lính Úc, lính Đại Hàn vào xứ sở cần biết đến hai từ sám hối hơn là tôi”.

Sau 75, sĩ quan binh lính trong quân nhạc - vì chỉ có những đội quân nhạc mới dàn chào quân đội đồng minh - chắc hẳn đã phải đi học tập cải tạo như các binh chủng khác. Sau nhiều năm ở trại không rõ khi ra về họ có sám hối, hoặc cải tạo hay có thể chính những người cải tạo họ được họ cải tạo?

Khi Dương Thu Hương vào Sài Gòn, được mời đến Hội Trí Thức Yêu Nước, bây giờ đã cải danh, là tổ chức được lập ra để phục vụ giới trí thức miền Nam trước 75, trong nhiều người đi nghe Dương Thu Hương có thể có sĩ quan quân đội Sài Gòn đã biết tiếng hay đọc một vài truyện của Dương Thu Hương, tưởng rằng tác giả miền Bắc này đã “giác ngộ” nhận ra những ảo tưởng của mình, nên đã đến hoan hô khuyến cáo tác giả lên làm tổng thống!

Nếu họ được đọc Tiểu Thuyết Vô Đề hay Tự Bạch, trong đó Dương Thu Hương khinh bỉ, mạt sát họ, liệu họ còn muốn đến nghe hay không, hoặc nếu đến, liệu họ có ca tụng hay la ó đòi tống xuất Dương Thu Hương về Bắc? (5)

Điều trớ trêu là những người không phải Cộng sản, sinh sống ở nước ngoài lâu năm ít biết đến miền Nam trước 75 và càng ít hiểu biết chế độ miền Bắc cũng phấn khởi ca tụng Tiểu Thuyết Vô Đề, giành nhau xuất bản để cho Dương Thu Hương sỉ vả nặng lời... Nhưng tôi nghĩ chỉ những người chống Cộng ở nước ngoài mới có quyền phê phán bạn bè của họ vội vã sốt sắng phổ biến, đề cao Dương Thu Hương, còn chính Dương Thu Hương thì không. Vì nếu không có những kẻ “thiếu tư cách” theo lối nói của Dương Thu Hương, đã quảng cáo cho Dương Thu Hương, nào ai biết đến Dương Thu Hương ở nước ngoài trong cộng đồng người Việt cũng như trong dư luận Tây phương mà kết quả là tạo cho Dương Thu Hương một tư thế, uy tín quốc tế nào đó? Liệu Dương Thu Hương có thực sự xứng đáng với những uy tín tư thế đó không? Cần một thời gian nữa, người ta sẽ có thể thẩm định đúng mức giá trị nghệ thuật, tư tưởng của các cuốn tiểu thuyết và tư cách thái độ trí thức của tác giả qua các bài phát biểu, tự bạch, trả lời phỏng vấn.

Đổi mới phải chăng là trở lại cái cũ đã bị phủ nhận?

Xin phép tác giả Bảo Ninh trích một đoạn trong tiểu thuyết Thân Phận Của Tình Yêu (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn Hà Nội - 1990 - trang 233-236).
“...Có một miền đất mà đời Kiên đã một lần lướt thoáng qua, bây giờ thường thấy hiện lên trước mắt như biểu tượng về vùng đất hứa đã mất vào quá khứ, đó là vùng thảo nguyên bao la miền Nam Tây nguyên: từ đèo Ngoạn Mục, qua Đơn Dương, Đức Trọng, xuôi đường 20 láng bóng, thẳng tắp về Di Linh... Chẳng phải chỉ vì không gian bát ngát xứ sở này gắn liền với thời kỳ hành quân kỳ diệu. Thần tốc! Thần tốc nữa của Sư đoàn 10, mà còn bởi chính ở đây, trên góc trời cực nam Cao nguyên, trước ngày kết thúc chiến tranh, trong lòng anh lần đầu tiên bừng lên tình yêu cuộc sống hòa bình, lòng thương mến ngưỡng mộ đối với đời sống lao động yên hàn, bình dị và êm ấm tuyệt đối tương phản với bạo lực, chém giết và tàn phá. Có thể đây là một ấn tượng lớt phớt và sai lệch, tuy nhiên là cơ sở để mãi mãi lưu giữ trong tiềm thức Kiên những vang âm của niềm lạc quan không bao giờ chết hẳn.

Kiên nhớ một buổi chiều, anh cùng tổ trinh sát ngự trên một chiếc Jeep lùn gắn đại liên rẽ khỏi lộ 20, chạy vào một đường đất đỏ dẫn sâu vào biển ngút ngàn cà phê mênh mông lút tầm mắt. Bọn anh dừng xe lại trước một ngôi nhà xinh xắn nằm cô lẻ, cách xa đường, xin nước uống và nghỉ ngơi chốc lát. Nhà nhỏ, kiểu nhà sàn, tường gỗ súc và gỗ ván, mái cao và nhọn phỏng dáng mái nhà rông. Khang trang, giản dị và thật đẹp. Ấp trại có máy cày, máy nổ, có hệ thống đường ống tưới cho cà phê nhưng không gây huyên náo. Quanh nhà trồng hoa. Sau nhà là vườn ăn quả.

Gia đình nhỏ, ba người: vợ chồng trẻ người Bắc di cư và một đứa con trai nhỏ chừng sáu bảy tuổi. Khi bọn Kiên với vũ khí, với trang phục hành quân nhàu nát, lấm lem mồ hôi, bụi đường, bước qua ngưỡng cửa, cả nhà chỉ đôi chút lo lắng và bối rối nhưng không hề kinh hoảng hay sợ sệt khúm núm. Thái độ của người chủ vườn và của vợ anh rất đáng mến, ân cần, tử tế một cách đúng mực đầy tự trọng. Tỏ lòng hiếu khách, họ muốn mời cơm nhưng khi bộ đội từ chối họ chẳng cố nài. Chị vợ đi pha cà phê, anh chồng thì ngồi tiếp chuyện khách. Anh nói năng lễ phép khiêm tốn, có học thức và thật tình, ngay thẳng.

- Thú thật là du kích chúng tôi cũng chưa từng nom thấy chứ đừng nói các ông, binh lính Bắc Việt... nhưng là người làm ăn lương thiện chúng tôi chẳng sợ, người chủ vườn nói. Chúng tôi trồng cà phê, trồng mía và trồng cả hoa. Ông Thiệu thua thì mặc ông Thiệu. Bởi vì dù là cộng sản các ông cũng là người, cũng thích hòa bình cũng ưa sự làm ăn yên ổn, vợ con đề huề... Nhờ trời nhờ đất, nhờ cây, nhờ đôi bàn tay mình, nhờ đồng tiền mình kiếm được chứ người canh nông ai mà sống nhờ thời được, phải không các ông?
Cũng may là trong làng trinh sát không hề có mặt những tay hay lên giọng tuyên huấn phách lối, uốn nắn người răn dạy người, thành thử bữa ấy trò chuyện chủ khách thật dễ chịu chỉ xoay xung quanh chuyện làm ăn sinh nhai, hạnh phúc gia đình, đời sống phong thổ, chẳng một lời đả động đến thời cuộc và chiến tranh. Khi chị vợ bưng cà phê lên, không khí càng ấm cúng, gần gũi... Và trong tất cả những điều ấy - trong tiếng trò chuyện nhỏ nhẹ, phúc hậu, hiền hòa, trong sự bài trí đẹp đẽ của căn phòng, trong ánh mắt và gương mặt dịu dàng của người vợ, vẻ tự tin bình thản của người chồng, trong nét mãn nguyện, yên hàn, dư đủ, vô nghĩa lý của đời sống gia trưởng tách biệt khỏi thời cuộc, trong hương vị dễ chịu của tách cà phê, trong mùi gỗ thông lát tường thơm thơm hăng hăng, trong sắc lá lùa trên cửa sổ, trong tiếng rì rào của cây cối xanh tươi, thậm chí cả trong tiếng lách cách từ tốn vô hại của lựu đạn, dao găm cài ở thắt lưng chạm nhẹ vào thành ghế đều toát ra cảm giác thấm mệt và một nỗi buồn ngọt ngào, cay đắng khó tả.

Rời khỏi cái trại ấp êm đềm ấy được một đoạn, ngồi trên xe, Vân “còm” - cựu sinh viên kinh tế kế hoạch - đưa ra ý kiến:

- Đấy, họ sống như thế đấy. ốc đảo bình yên sung sướng thật. Nhưng tớ nghĩ đến mấy ông thày của tớ ở trường đại học với những lý luận của các bố ấy mà hãi hùng. Nếu bọn ta đánh thắng có nghĩa là dọn đường cho mấy lão ấy tràn vào. Và khi đó thì cặp vợ chồng nọ sẽ biết thế nào là thời thế mới!

- Ừ, họ sẽ khốn khổ. Hòa bình, cánh mình có quay trở lại chắc gì họ còn đối đãi tử tế nữa nhỉ?

- Là cái chắc! Trừ phi mày trở lại đây làm chủ nhiệm hợp tác xã!

- Nếu thế thì thật đáng buồn... Tớ thì lại đang nghĩ ước gì vùng quê của tớ sau này có được những ấp trại như thế. Cảnh Mộc Châu cũng tựa cảnh này, nhưng nghèo khổ kinh người.

Mệt mỏi, Kiên ngồi gà gật, không tham gia vào câu chuyện. Nhưng anh nhớ mãi. Sau này, mấy lần trở vào Nam công tác đã mấy lần anh tính lên thăm lại miền đất đó song chẳng lần nào thực hiện được. Còn Vân, Từ, Thanh, những trinh sát viên đã cùng Kiên ghé thăm vợ chồng nhà ấy thì đều đã hy sinh cả rồi...

Kể ra thì dường như chẳng còn gì mờ nhạt hơn một lần dừng chân thoáng chốc như thế trên đường chiến tranh, song chính những điểm mờ nhạt ấy của ký ức càng về sau càng quyến rũ hồi tưởng của Kiên. Và có vẻ như càng ngày càng có ý nghĩa hơn, sâu sắc và thắm thiết hơn.”
Dưới đây, tôi ghi lại mấy nhận xét, suy nghĩ sau khi đọc đoạn văn kể trên:

Trước hết, đây là một tiểu thuyết, không phải một chứng từ hay một ghi chép sự kiện có thật trong sách sử ký (người, nơi, thời điểm cụ thể). Tuy nhiên, câu chuyện kể, cảnh vật, nhân vật, cách đối xử, tình cảm, v.v... đều có thực trong thời điểm chế độ miền Nam (1955-75) không phải chỉ ở vùng cao nguyên mà cả ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, cũng không phải chỉ thấy trong giới dân lành, chỉ biết làm ăn không tham gia hoạt động chính trị, cách mạng mà cả trong giới những gia đình tham gia cách mạng, có thể là đảng viên nữa. Ai sống ở miền Nam thời kỳ này đều dễ dàng nhận ra thực tế khá phổ biến trên. Và người miền Bắc vào miền Nam sau 75, đi tham quan phong trào hợp tác hóa ở nông thôn, chắc hẳn đã chứng kiến tận mắt những trường hợp gia đình cách mạng có đầy đủ những gì tác giả Bảo Ninh đã mô tả chống lại phong trào hợp tác hóa thế nào?

Tâm tư nguyện vọng của gia đình hai vợ chồng trẻ và đứa con nhỏ phản ảnh tâm tư nguyện vọng của phần lớn người dân chỉ biết làm ăn lương thiện nhờ vào sức mình, nhờ trời... để phát đạt, không bóc lột ăn cướp của ai, nên không sợ bất cứ chính quyền nào, cũng không lưu tâm tới những chính quyền ấy thay đổi, ai thắng ai thua cũng vậy, ngay cả chính quyền Cộng sản cũng không e ngại vì tin rằng người Cộng sản cũng ưa hòa bình, làm ăn yên ổn, vợ con đề huề... Điều tin tưởng sau cùng là ảo tưởng như anh bộ đội là “sinh viên đại học” đã nhắc nhở trong truyện. Nhưng dù sao ảo tưởng đó không “cay đắng, bi đát” bằng tin tưởng của những gia đình tham gia cách mạng, lúc đó đã không thể thấy được mình tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình hoạt động tự tiêu diệt sau này.

Một vài suy nghĩ nhận xét tôi muốn trình bày chủ yếu xoay quanh việc tìm hiểu những điều kiện khả thi hay những điều kiện có thể có hay không thể có một tâm tư, một thái độ, một thể chế, chẳng hạn những điều kiện cho phép vợ chồng anh nông dân có những ý nghĩ như trên về thời cuộc, về có thể làm giàu phát đạt một cách lương thiện, hoặc những điều kiện cho phép có thể có chiến tranh khuynh đảo v.v.
Miền Nam Việt Nam trước 1975 có ba loại hình xã hội chính cho phép người dân có thể đủ ăn hay giàu có nếu làm ăn lương thiện, cũng cho phép người dân có thể có nhiều thái độ tâm tình khác nhau về thời cuộc, các chế độ chính trị.

1. Một xã hội ít nhiều tôn trọng xã hội dân sự (société civile):

Khi nói đến miền Nam trước 75, có lẽ dư luận trong nước ngoài nước chú ý về mặt chính thể, chính quyền nhiều hơn về mặt chế độ xã hội, nên coi thường hoặc đánh giá thấp chế độ xã hội miền Nam. Miền Nam là chế độ Diệm-Nhu hoặc Thiệu-Kỳ... độc tài, gia đình trị, tham nhũng, thối nát, đĩ điếm, tay sai... Tuy nhiên người dân thường ở nông thôn hay ở ngay thành thị càng ngày càng ít để ý đến những hoạt động, thay đổi chính trị của chính quyền Sài Gòn vì thực ra những thay đổi đó ít có tác dụng vào đời sống hàng ngày của họ. Nhưng dù sao các chính quyền Sài Gòn vẫn ở trong chế độ chính trị của nền Cộng hòa được nhiều quốc gia trên thế giới nhìn nhận. Dù người dân có khinh ghét chính quyền Sài Gòn thế nào đi nữa, có lẽ ít ai nghĩ rằng mình đang sống trong vùng Mỹ-ngụy, vùng tạm chiếm mà chỉ nhìn nhận: Việt Nam là một dân tộc, nhưng hiện đang bị chia cắt, có hai thể chế chính trị: Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và mong muốn một ngày nào đó có thống nhất trong hòa bình.

Những chính quyền hay thay đổi ở miền Nam cần được phân biệt với chế độ xã hội miền Nam ít nhiều vẫn duy trì và phát huy những sinh hoạt của điều mà người ta gọi là “xã hội dân sự” (société civile). Cũng cần nói ngay không phải chỉ miền Nam trước 75 có thứ xã hội trên mà miền Bắc trước 45 và ở các nước khác trên thế giới, ở Nga trước 1917, ở tất cả những nơi nào không bị thể chế chính trị chuyên chế tuyệt đối (totalitarisme) về tôn giáo hay ý thức hệ thống trị.

Nếu phân biệt xã hội công (le social public) với xã hội tư (le social privé) thì xã hội dân sự là một loại hình xã hội trong đó nhà nước không can thiệp vào “xã hội tư” về các quan hệ nghề nghiệp, giáo dục, tư tưởng, văn hóa, cứu tế, liên đới xã hội và các quan hệ về mặt tình cảm (gia đình, họ hàng, bạn bè, thày trò...)

Vợ chồng anh nông dân di cư có thể làm giàu được, cũng như nhiều gia đình khác tham gia cách mạng cũng đã có thể đủ ăn, làm giàu được vì chế độ xã hội miền Nam đã tôn trọng những đòi hỏi của xã hội dân sự (tôn trọng quyền tư hữu, quyền tự do kinh doanh, lập nghiệp, cư trú...).

2. Xã hội đa dạng, đa chiều:

Đời sống xã hội lành mạnh và phát triển đòi hỏi bảo đảm thực hiện được một số trật tự sau đây:

a. Trật tự khoa học kỹ thuật trên bình diện sự vật, sự kiện thiên nhiên hay nhân loại. Cả hai loại sự kiện này đều có quy luật tất yếu của nó, phải tôn trọng, chấp nhận quy luật nhưng vẫn có thể thay đổi, chế ngự chúng bằng cách chuyển hóa các yếu tố cấu tạo nó.

b. Trật tự pháp lý chính trị: biểu hiện bằng luật pháp quy định cái gì là hợp pháp với cái gì là phi pháp. Tuy nhiên cái hợp pháp không phải đương nhiên và bao giờ cũng hợp lý. Do đó có thể có cái hợp pháp mà phi lý hay bất công. Lý tưởng trong trật tự này là phải luôn luôn điều chỉnh pháp lý phù hợp với lý tưởng chính trị là biểu hiện của luật pháp bằng quyền lực mà nhà nước là thừa tác viên.

c. Trật tự đạo lý: quy định điều gì phải làm, điều gì không được làm hay không nên làm. Không phải chỉ dừng lại ở bình diện trật tự pháp lý chính trị: làm hay không được làm những điều pháp luật đã quy định và nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt, mà còn vượt lên vươn tới những đòi hỏi đạo lý được biểu lộ bằng những khái niệm về nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm, lòng danh dự, lòng tự trọng, biết liêm sỉ... anh bất lực không làm được đầy đủ một việc gì, chẳng có luật nào buộc anh từ chức, nhưng lòng tự trọng có liêm sỉ buộc anh từ chức, thế thôi.

d. Trật tự tình người, tình thương, từ bi bác ái (tôn giáo). Trong khuôn khổ của trật tự này, không có điều kiện hay quy định nào hết, làm hay không làm một điều gì chỉ vì tình người, tình thương, tình yêu, từ bi Phật giáo hay bác ái Công giáo... cũng không có giới hạn nào cả, hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng của người dâng hiến, hy sinh...

Bốn trật tự trên cần được phân biệt vì mỗi trật tự có những đòi hỏi sắc thái riêng. Nhưng cả bốn đều cần thiết, không thể bỏ một trong bốn hay giản lược tất cả bốn vào một trật tự nào mà thôi. Trong thực tế, không bao giờ có xã hội nào thực hiện được đầy đủ, trọn vẹn, đồng đều bốn trận tự kể trên. Luôn luôn có những lạm dụng, xúc phạm bằng cách xóa bỏ hay giản lược theo hai hướng trái ngược: từ dưới lên trên hay từ trên xuống, chẳng hạn giản lược xóa bỏ những đòi hỏi, bó buộc tất yếu của sự kiện thuộc trật tự khoa học kỹ thuật nhân danh những đòi hỏi của chính trị. Chính trị quyết định tất cả, chính trị có thể làm được mọi sự miễn là quyết tâm (thái độ duy ý chí). Hoặc không cần pháp lý, chỉ cần có đạo lý, vì có đạo lý rồi thì không làm điều bậy, bất hợp pháp (theo một xu hướng nho giáo). Hoặc giản lược chính trị, đạo lý, tình yêu và kỹ thuật chuyên môn tạo ra một giới quản gia chuyên chính chỉ biết những quy luật tất yếu của các sự kiện.

Ở đâu và thời nào cũng luôn luôn có những đe dọa, sa đọa giản lược xóa bỏ một trong bốn trật tự kể trên. Nhưng điều quan trọng là xã hội cho phép có thể có những phản ứng đối kháng, điều chỉnh những sa đọa, lạm dụng và ngay cả trong trường hợp không có áp lực giản lược mà chỉ đơn thuần có những mâu thuẫn bình thường giữa các trật tự thì xã hội cũng cho phép có thể có những lựa chọn khác nhau, lựa chọn một giá trị của trật tự này hay của một trật tự khác cao hơn. Điều cốt yếu ở đây, nói cho cùng, là xã hội tôn trọng những tự do lựa chọn của những tập thể, giới, nhóm hay của mỗi cá nhân quy định theo lương tâm của mình mà thôi. Đó là những điều kiện cho phép có thể có một xã hội đa dạng và vì thế một xã hội đa dạng không thể có trong trường hợp một chế độ giản lược một cách triệt để ba trật tự khác vào một trật tự và dùng các hình thức bạo lực để duy trì sự giản lược đó. Những ai sống ở miền Nam trước 75 đều dễ dàng nhận diện tính cách đa dạng, nhiều chiều của xã hội miền Nam thời đó.

Một người có người thân (họ hàng, ruột thịt, bạn bè) tập kết ra khu, nếu còn nhỏ tuổi, thì chẳng gặp khó khăn gì trong việc học hành, thi cử, lãnh học bổng; nếu đã trưởng thành nhưng không làm gì đồng lõa cùng lắm bị để ý, theo dõi nhưng thường không gặp phiền hà trong cuộc đời làm ăn, nghề nghiệp vì người ta không dựa vào chính trị như tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá, quyết định một thái độ đối xử. Không phải chỉ thấy ở miền Nam Việt Nam; ở nước Nga thời Nga hoàng, anh Lénine bị kết án tử hình về tội phản quốc, nhưng Lénine vẫn được khen thưởng, tặng huy chương và theo học đại học. Nếu Nga hoàng theo chủ nghĩa lý lịch, thì đã không có Lénine và học thuyết Lénine. ở miền Nam trước 75 không thiếu gì những người làm văn nghệ chống Cộng, coi Cộng sản là kẻ thù. Đó là thứ văn chương phân biệt giới tuyến, bạn thù dứt khoát nêu cao chính nghĩa chiến đấu trong khuôn khổ trật tự chính trị, pháp lý về đạo lý. Nhưng cũng không thiếu những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ vượt khỏi khuôn khổ hai trật tự kể trên, lựa chọn trật tự của tình người, tình thương không phân biệt bạn thù, chiến tuyến để có thể nhìn cao hơn: khía cạnh bi thảm của chiến tranh, khía cạnh phi lý của chém giết, khát vọng Hòa bình, Thân ái... Không phải chỉ có mình Trịnh Công Sơn, mà có hàng trăm người khác trên lãnh vực thơ văn tiểu thuyết. Người ta đã gọi đó là văn chương phản chiến hay chống đối, phản kháng. Nhìn như vậy, là chỉ xét về mặt chức năng, tác dụng, nhưng nếu trở về nguồn phát sinh ra thứ văn chương này, đó chính là lương tâm nhân loại, ý thức về Tình người mà thôi.

Trong các tạp chí, ngay cả của các binh chủng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng thấy có những bài thơ, ký, truyện ngắn không phân biệt chiến tuyến, do đó cũng không có phân biệt bạn thù. Chẳng hạn báo Cánh Thép số 15 (11/1972) của Sư đoàn Không quân, có bài bút ký di cảo của Trịnh Đức Tự, trung tá, nhan đề: “Quê hương không thù hận” hoặc bài thơ “Xin được làm mây trắng” của Trần Hải Sơn, phi đoàn 819. Một quân nhân ở trong một binh chủng đặc biệt, đang tại ngũ, nhưng đồng thời cũng vượt khỏi khuôn khổ binh nghiệp, nghĩa vụ quân sự, nói lên tiếng nói của tình người, tình đồng bào, ước mơ hòa bình, thống nhất trong việc vận động xây dựng một hội trường thống nhất ở Bến Hải, ra một tập sách Việt Nam, Việt Nam Ơi!: “Vì cứ mỗi một người Việt Nam chết đi thì có một số người Việt Nam khóc, và một số người Việt Nam cười! Chiến thắng, chiến bại cứ theo năm tháng và vần xoay. Nhưng hận thù thì cứ mỗi ngày một cao, chia rẽ cứ mỗi ngày một sâu... Cúi lạy Thượng đế, con viết những giòng sau đây không nhằm kết tội một ai cả, vì con là ai mà dám kết tội người khác, vì con cũng là một tội nhân trong số những tội nhân đã gây ra thảm trạng Việt Nam”. (6)

Điều quan trọng ở đây là xã hội đã cho phép một người lính đang cầm súng trong chiến tranh có thể bày tỏ một thái độ khác, cao hơn, xuất phát từ lương tâm nhân loại của mình, một cách công khai trên sách báo... Triệt để hơn nữa là lấy chính mạng sống mình để làm chứng cho đòi hỏi của trật tự tình người, tình thương như Nhất Chi Mai đã làm:
“Việt Nam, Việt Nam ơi, sao cứ mãi thù hằn, sao bắn giết mà vui.
Thắng rồi ai thua đó, vinh nhục này ai mang, bỏ danh từ nhãn hiệu.
Chúng mình người Việt Nam, chân thành tay mình nắm
Quân mình lo nước non, Việt Nam, Việt Nam ơi!”
(“Di chúc Sài Gòn”, 25-9-67)
Một trường hợp khác cũng khá phổ biến trước đây ở miền Nam: Trong cái thế đối lập giữa hai trật tự: trật tự pháp lý chính trị và trật tự đạo lý, tình người, có những lựa chọn trật tự cao hơn (đạo lý tình người) chẳng hạn anh em, con cháu, bạn bè theo Việt cộng trà trộn ở cơ quan, trong dân chúng, biết mà không tố cáo, thậm chí còn cho tá túc trong nhà vì coi tình nghĩa ruột thịt, bạn bè cao hơn quyền lợi chính trị, pháp luật...

3. Xã hội mở:

Xã hội mở là xã hội nhìn nhận nguyên tắc tổ chức, điều hành dựa trên sự tôn trọng các quyền lợi tự do chính đáng của người dân về đi lại, thông tin, giao lưu văn hóa trong nước với nhau và trong nước với ngoài nước. Sự tôn trọng trên bao hàm một phủ nhận bất cứ một quyền hành tuyệt đối nào mang tính chất tôn giáo hay ý thức hệ tự coi mình có trách nhiệm quy định những luật lệ, khuôn mẫu cho mọi sinh hoạt công tư của người dân... Về lý luận, sự tôn trọng trên cũng dựa vào một quan niệm lịch sử, tương đối về nhận thức chân lý theo kiểu nói của Karl Popper: đã là nguyên tắc khoa học thì có thể sai lầm. Cái gì đúng bao giờ và luôn luôn phải được xem xét lại, phê phán để tìm cái đúng hơn... Đó là khoa học, cho nên mọi lý thuyết không được cho phép phê phán vì được coi là không thể sai lầm thì đó là những lý thuyết giáo điều, phản khoa học. Chẳng hạn nếu anh có thể phê bình học thuyết Freud là vì anh đã là người điên, cũng vậy nếu anh phê bình chủ nghĩa Marx là vì anh đã là kẻ thù giai cấp...

Như vậy, chỉ xã hội mở mới có thể cho phép có phát triển, tiến bộ vì những giao lưu, trao đổi, thông tin luôn luôn được kiểm tra, điều chỉnh, hoàn thiện. Dĩ nhiên một xã hội mở như trên cho phép có những xâm nhập, chấp nhận những tác động của những yếu tố, nhân tố xâm nhập... Điều quan trọng là tự mình phải có bản lãnh khi tiếp thu, giao dịch để được phong phú hóa mà không để mất bản sắc, phẩm cách của mình.
Xã hội miền Nam trước 75 ít nhiều là xã hội mở. Trừ thời ông Diệm đôi chút còn nghiêm khắc, càng về sau cho đến 75, càng mở toang: ai muốn nói chủ trương gì cũng được tự do làm, thậm chí tuyên truyền hầu như công khai cho cả lập trường thiên Cộng, Cộng sản... Các tổ chức nằm vùng, trí vận, binh vận, dân vận núp sau các chiêu bài văn hóa, dân tộc do những nhân sĩ trí thức ngoài đảng cầm đầu, nhưng thực ra do đảng chủ trương, điều khiển nói chung vẫn được bộc lộ công khai, mặc dầu đôi khi có bị đàn áp, hạn chế. Biên giới cũng bỏ ngỏ để cho các lực lượng võ trang, tình báo xâm nhập, hoạt động ngay trong “lòng địch”.

Nói chung, các tổ chức văn hóa, giáo dục công hay tư, các cơ sở kinh doanh buôn bán, các tổ chức giáo hội của các tôn giáo đều không có những “đội bảo vệ chính trị” nên rất dễ bị xâm nhập về mặt chính trị.

*

Xã hội miền Bắc theo khuôn mẫu các nước Cộng sản, xóa bỏ xã hội dân sự, giản lược trật tự khoa học kỹ thuật vào trật tự chính trị (duy ý chí) đồng thời cũng giản lược trật tự tình người, tình thương và trật tự đạo lý vào trật tự chính trị. Sau cùng đó là một xã hội đóng, khép kín. Những nguyên tắc tổ chức, điều hành xã hội miền Nam trước 75 và xã hội miền Bắc hoàn toàn khác nhau. Miền Bắc lại coi miền Nam tự do là thù địch cần tiêu diệt, nên không thể tránh được chiến tranh và đây là thứ chiến tranh khuynh đảo, lật đổ từ bên trong, và trong giai đoạn cuối chiến tranh khuynh đảo kết hợp với chiến tranh xâm lược công khai dùng quân sự vượt giới tuyến đưa đến thắng lợi 30-4-1975.

Chỉ xét về mặt xã hội, đạo lý thôi, trong khuôn khổ chiến tranh khuynh đảo, miền Nam đã thua rồi vì chính cơ cấu tổ chức xã hội (xã hội mở), tâm tình đạo lý đặt tình bạn, tình nghĩa ruột thịt lên trên nhiệm vụ chính trị, đặt niềm tin vào một số tập quán, kiêng cữ trở thành truyền thống linh thiêng của dân tộc (ngày Tết không cãi nhau, đánh nhau) đã cho phép có thể có chiến tranh khuynh đảo, xâm nhập, hoạt động trong lòng địch và dựa trên một sách lược tranh đấu phủ nhận mọi giá trị đạo đức, đã bị giản lược vào chính trị và cho phép phe chủ trương chiến tranh khuynh đảo thắng.

Như trên đã nói, con người không thể sống như con người nếu xóa bỏ một trật tự nào trong bốn trật tự quy định nếp sống xã hội bình thường, lành mạnh và phát triển. Chế độ xã hội Cộng sản xóa bỏ hai trật tự đạo lý, và tình người, tình thương tiêu diệt được người ngoài và cả đồng bào mình để rồi phải đi đến chỗ không thể tránh được: tiêu diệt chính mình, vì thủ đoạn lừa dối về chính trị không phải chỉ áp dụng với kẻ thù, kẻ địch mà cũng áp dụng cho cả bạn, đồng chí... không thể khác được, một khi đã coi lừa dối là chính sách, đạo lý. ở đây chỉ xin trích ghi một chứng từ của một đảng viên về hưu mất niềm tin, thất vọng và chán chường đau xót thế nào về sự lừa dối chính trị.

Hãy xem “Lá thư đã khuấy động tâm hồn chúng ta” của bác sĩ Trần Nam Hưng ngày 6-8-1988 trên báo Tuổi Trẻ:
Cháu Lã Vĩnh Nguyên quý mến,
Bác là một bác sĩ già, tuổi bảy tư, phục vụ trong quân đội ta hơn 30 năm, nay về hưu. Đã có một thời gian dài bác cũng có suy nghĩ như cháu, bác chưa nói được như cháu “tim tôi ai bóp mà đau”. Đến nay thì tim bác đã chai cứng đi rồi. Bác chán suy nghĩ, chán đọc, chán học, như cháu.

Chủ nhật vừa qua, ngày 31 tháng 7 năm 1988, bác đọc bài “Tại sao?” của cháu. Thật là thần kỳ, bài của cháu làm sống lại những gì còn phải sống nơi bác. Mấy đêm liền bác không ngủ, phải dùng đến thuốc ngủ. Bác vô cùng biết ơn cháu. Bác viết thư cho cháu đây.

Trước hết cháu gợi lên một ý thiêng liêng trong Di chúc Bác Hồ mà bác nghĩ không một người Việt Nam nào trong chúng ta không in sâu vào tâm não: “Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Nói làm sao, ăn làm sao nếu ngày nay ta có 10 triệu người đói, bốn triệu người đói nặng và mấy