Nhìn lại những chặng đường đã qua
Nguyễn Văn
Trung
1 2 3 4 5 6 7 8
VII
Đoàn kết một lòng
Nguyễn Văn Trung
“…
Tôi cố gắng viết lại những gì tôi đã đọc đã thấy, để một ngày nào đó,
thế hệ hôm nay và mai sau, dĩ nhiên chấp nhận hiện tại, và có những lựa
chọn từ hiện tại, nhưng cũng buộc phải nghĩ lại quá khứ để có được
những lựa chọn xác đáng…”
Sau 75 tôi đã viết một tài
liệu về những hoạt động chính trị của người Công giáo trong giai đoạn
1963-1975, lúc mà những sự việc đã qua còn nóng hổi có thể nhớ được dễ
dàng kiếm ra báo chí tài liệu của các phong trào cũng dễ dàng, đi gặp
cả những nhân chứng đã cầm đầu hay hoạt động trong các phong trào đó.
Đó là việc mà bây giờ, sau gần 30 năm, không thể có đủ điều kiện hoàn
cảnh để làm được như thế nữa. Dưới đây là phần ghi lại diễn tiến của
cao trào đấu tranh của thành thị Miền Nam để chống tham nhũng cứu nước
và kiến tạo hoà bình.
*
Sau hiệp định Paris, LM Cao Văn Luận, đi nước ngoài, ghé Rôma về cho
tôi biết: Hồng y Cassaroli, quốc vụ khanh toà thánh nhờ ông chuyển lời
nhắn của toà thánh tới các giám mục VN chuẩn bị chung sống với Cộng Sản.
Sau đó Đức Cha Thiện, giám mục Mỹ Tho xác nhận với tôi rằng chính Giáo
Hoàng đã ngỏ lời khuyến cáo đó với các giám mục khi hộ viếng Rôma. Lời
nhắn này phải được hiểu hoàn toàn trên bình diện mục vụ (Pastorale).
Giáo Hội phải có mặt, sống đạo và truyền đạo trong bất cứ hoàn cảnh
nào, dưới bất cứ chế độ nào, thuận lợi hay không thuận lợi (Opportune,
importune). Đòi hỏi đó giải thích tại sao sau 30-4-75 không một giám
mục nào di tản, Hoạt động của LM Thanh có nằm trong chiều hướng kể trên
về chính trị hay không. Linh mục Thanh có đem ra trao đổi trong bộ tham
mưu của ông để xúc tiến thành lập một chính phủ và Tổng Thống mới nhằm
đối phó với Cộng sản? Và nếu có thì người Mỹ có chấp nhận cho ông thiết
lập một chính quyền mới có hậu thuẫn quần chúng hay chỉ muốn ông chuẩn
bị tinh thần cho những người miền Nam đặc biệt người Công giáo chấp
nhận chung sống hoà bình với Cộng Sản? Đó là những thắc mắc tôi nêu ra
nhưng không có tài liệu nào giúp trả lời. Rất mong đợi linh mục Thanh
giải đáp cho, nếu ông có viết ý định viết chút gì để lại cho đời sau.
Vào những tháng đầu sau ngày 30-4-75, những người hoạt động, người
tranh đấu chính trị thuộc các xu hướng khác nhau còn ở lại VN, ngồi chờ
xem số phận của mình sẽ được chế độ mới đối xử ra sao. Họ đều chung tâm
trạng của những kẻ “ vừa giã từ vũ khí “ trước một tương lai chắc chắn
không thể tiếp tục hoạt động hay tranh đấu gì nữa. Do đó họ dễ chấp
nhận gặp nhau “làm tổng kết tình hình “ vừa qua, trong khi các kỷ niệm
còn nóng hổi, các báo chí, tài liệu nội bộ còn giữ được, nhưng lại đang
trở thành một thứ “của nợ” phải thanh toán.
Tôi chỉ là người quan tâm đến các vấn đề chính trị, cũng rảnh rỗi,
thường đi gặp những người hoạt động trước 75 ít quen, ít gặp, như Nghị
sĩ Thái Lăng Nghiêm, nhà báo Cao Dao, luật sư Đào Văn. Chúng tôi thường
hẹn nhau ở nhà hàng bà Nguyễn Phước Đại, bà đã biến văn phòng luật sư
thành tiệm cơm tây, đông khách, mời bạn đến ăn cho vui... Tôi cũng gặp
lại các thầy Quảng Liên, Trí Quang, các cha Hoàng Quỳnh, Trần Ngọc
Nhuận, Hồ Văn Vui, Nguyễn Quang Lãm, Đinh Bình Định, Trần Hữu Thanh,
hoặc các lãnh tụ giáo dân như Nguyễn Văn Bách, Nguyễn Đình Đầu. Sau một
thời gian, tất cả chúng tôi đều bị bắt.
Tôi đã chứng kiến cảnh các chủ nhiệm như Nguyễn Quang Lãm đốt báo Xây Dựng.
Tôi không thể thu nhận báo hằng ngày, ngay báo của chính tôi cũng phải
huỷ đi, vì không có chỗ để. Tôi chỉ giữ những số liên quan đến các biến
cố đặc biệt; các tạp chí, tuần báo đạo, đời. Linh mục Nguyễn Văn Thăm
trao cho tôi bộ Thẳng Tiến còn LM Trần Hữu Thanh cho tôi toàn
bộ các “album” báo cắt, hình ảnh của Phong Trào Nhân Dạn Chống Tham
Nhũng (PTNDCTN). Tôi có một kho sách để trên sân thượng của cư xá Đại
học, chỗ tôi ở. Ngày tôi bị bắt, Công an đến nhà như mở một cuộc hành
quân, ra lệnh ai nấy đứng yên tại chỗ, rồi đọc bản án. Tình hình thật
căng thẳng. Nhưng tôi và gia đình đều cố giữ bình tĩnh, không la lối,
thắc mắc, phản đối hoặc van nài... Thái độ tự trọng và bình tĩnh, sẵn
sàng đáp ứng các đòi hỏi của những kẻ đến làm phận sự của họ trong phút
chốc đã làm cho tình hình căng thẳng dịu xuống.
Công an yêu cầu xét nhà, trước hết tôi
chỉ chỗ để các tủ của gia đình,
một anh mở tủ lạnh, chỉ thấy bo bo, một ít trái cây
mua ở hợp tác xã
phường. Anh đóng lại và không xét các
tủ để tìm tiền, vàng nữa. Nhưng
về sách báo, quả thực tôi giầu có. Tôi
chỉ cho Công an các chỗ để tài
liệu, sách báo đủ loại. Họ đề nghị xem xét chổ để
số hồ sơ tài liệu,
chọn một ít xếp đầy xe La Dalat của họ, nhắc tôi ăn cơm
tối vì vào
trong đó không còn bữa tối. Tôi và
nhà tôi ký vào biên bản xét
nhà mà
tôi vẫn còn giữ, trong đó ghi thái độ của bị
can: bình thường, thái độ
của thân nhân: bình thường. Tôi không bị
còng tay, ra đi giữa hai anh
công an như thể người quen đến thăm, vừa đi vừa nói
chuyện...
Ngày hôm sau, C.A đem một xe tải lớn để chở kho
sách trên sân thượng.
Theo nhà tôi thuật lại, mấy anh CA trẻ cứ mải mê coi
sách. Nhà tôi nói
với người chỉ huy: “Đây là sách báo,
tài liệu và những công trình mà
nhà tôi đã và đang nghiên cứu, nếu như
các ông lấy mang đi, liệu có giữ
được an toàn cho gia tài văn hoá này
không?” Sau câu nói đó, người chỉ
huy chỉ lấy một số sách báo tài liệu và ra
lệnh: “Thôi, không tịch thu,
chỉ niêm phong lại.” Nhờ vậy, tôi vẫn giữ được số
sách báo và tài liệu
trước 1975, cho nên mới có thể viết được nhiều vấn đề
trong đó có đề
tài về những hoạt động tranh đấu của người Công
giáo từ 1963 đến 1973
và từ 1973 đến 1975, gần một trăm trang đánh máy.
Xin trích giới thiệu
một đoạn trong tập bản thảo ghi lại nguyên nhân và
nguồn gốc ra đời
khối Công giáo di cư có danh xưng là Lực
Lượng Đại Đoàn Kết.
Lực Lượng Đại Đoàn Kết
Nhiều người hoạt động trong khối này đưa ra nhận xét: Công giáo không
làm chính trị từ trước đến nay. Làm chính trị hiểu theo nghĩa đề ra một
lý thuyết, một đường lối, một sách lược, thành lập một tổ chức như của
một đảng nhằm nắm giữ chính quyền, thì họ không thể làm được, cho nên
họ chỉ làm thứ chính trị tự vệ, nghĩa là khi bị đẩy vào tình thế mà họ
cảm thấy đời sống đạo giáo bị đe doạ, họ sát cánh lại với nhau để phản
ứng tự vệ, thế thôi, hết đe doạ, hết làm chính trị.
Y kiến trên được trình bầy với một vài người chủ chốt trong khối, đều
được họ công nhận là đúng và đề nghị nên tìm hiểu để đánh giá những
sinh hoạt tranh đấu của Khối Công giáo Di Cư. Uỷ ban tranh đấu Công
giáo Đại Đoàn Kết trong khuôn khổ nhận định cơ bản trên đây.
Sau đảo chính 1963, tình
thế nào đã đẩy người Công giáo vào
một hoàn
cảnh đến nỗi làm cho họ cảm thấy sự sống còn của họ bị đe
doạ? Hoàn
cảnh nào đã bắt buộc họ “phải làm
chính trị”, thứ chính trị bất đắc dĩ!
Việc làm được họ trình bầy và biện minh như một
phản ứng tự vệ chính
đáng. Bác sĩ Trần Kim Tuyến, với bút hiệu Lương
Khải Minh đã bộc lộ tâm
sự trên trong bài “Công giáo Từ Tổ Chức
Đến Thực Chất “ (tạp chí Quần Chúng, số 1,
tháng 5-1969 ) bàn về những điểm:
Công giáo VN và Chính Quyền Ngô Đình Diệm
Công giáo và Phật Giáo
Công giáo sau ngày 1-11-63.
Công giáo và vấn đề chống Cộng.
Lương Khải Minh: Thái độ của giới Công giáo sau vụ 1-11-63
Có thể nói, thái độ tổng quát của họ
là lạc quan gần như vui mầng, vì
cho rằng : Đây là một cơ hội tốt cho quốc gia nói
chung, để đoàn kết
chống Cộng và cho tôn giáo nói riêng,
để giải thoát họ khỏi mặc cảm
“chính quyền Công giáo” và do
đó giúp cho công việc truyền giáo của họ
được dễ dàng bành trướng sâu rộng hơn, miễn
là có một chính quyền mới,
thành tâm và tích cực chống Cộng, đồng thời
đối xử đồng đều với mọi
công dân không phân biệt tôn giáo.
(bài đã dẫn, tr.48).
Những sự việc liên tiếp sau đây xảy ra làm cho họ
tỉnh mộng: Trước hết
là âm mưu ám sát Tổng Thống Ngô
Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu sau khi
2
ông này đã nộp mình. Trên nguyên
tắc hành động này trái với lương tâm
Công giáo... Mấy tháng sau, Hoa Kỳ cũng ngồi lặng
yên để cho người ta
sát hại ông Cẩn, là người đã xin tị nạn tại
toà lãnh sự Hoa Kỳ... Trên
thực tế chính trị, những hành động vấy máu
đó tố cáo sự thiếu tư cách
của giai cấp lãnh đạo mới tại Miền Nam.
Dù thế, vì mặc cảm không muốn bị gán cho là bênh vực cá nhân hay gia
đình ông Ngô Đình Diệm, tổ chức Công giáo vẫn còn lắng chờ, trong hoang
mang lo sợ. Và họ đã tiếp tục thấy những gì? Họ đã thấy: Chính quyền
mới nhân danh cách mạng, cố kéo bè phái vào đầy cơ quan, bất chấp luật
lệ. Họ đã thấy rằng: chính quyền mới nhân danh cách mạng thanh trừng
chế độ cu, bắt bớ, giam giữ, tra tấn hay loại trừ ra khỏi các cơ quan
công quyền, quân chánh, đa số những người chống cộng, có năng lực và
kinh nghiệm, rồi họ thấy rằng đa số những người ấy lại là người Công
giáo... đồng thời với những vụ bắt bớ thanh trừng trên lại phóng thích
ân xá hàng loạt lưu manh trộm cướp và hằng chục ngàn Cộng sản (có người
nói là khoảng 30.000 người), viện lẽ bọn chúng đều là nạn nhân vô tội
của chế độ cũ...
Trong cơn lốc các biến cố dồn dập, người Công giáo chỉ kịp nhận ra các
sự thực hiển nhiên: tập đoàn có quyền lợi mới đã làm tất cả những gì
cần thiết để tiêu diệt guồng máy chống Cộng; họ dùng chiêu bài “thanh
toán chế độ cũ” và tay sai Cần lao và bất cứ ai tỏ ra không công khai
ủng hộ chế độ mới, muốn tìm cách nói lên tiếng nói khác thì liền bị
chụp mũ, bôi nhọ và thanh toán luôn... Không ai có thì giờ để tìm hiểu
rõ ràng rằng: Chánh quyền mới đã tự để cho Phật giáo khống chế hoàn
toàn, họ đã bị khống chế một phần bởi các “khối vận dụng quần chúng” mà
Cộng sản đã sửa soạn sẵn.
Tình hình căng thẳng. Tuy nhiên người Công
giáo vẫn còn thụ động vì mặc
cảm sợ rằng: bao lâu người ta chưa đánh thẳng vào
mình, với danh nghĩa
Công giáo của mình, mà mình lên
tiếng, cho dù là lên tiếng báo nguy,
thì người ta cũng sẽ chụp mũ mình, làm cho quần
chúng tin rằng mình là
tay sai chế độ cũ, là Cần lao ác ôn.
Nhưng những giọt nước làm tràn ly đã đổ xuống:
Cộng sản miền Trung,
hoặc vì muốn thí nghiệm, hoặc vì tin tưởng
vào cái thế kẹt của phe Công
giáo, đã vận dụng quần chúng tràn
lên, bám vào hệ thống Phật giáo để
thành lập phong trào các Hội Đồng Nhân
Dân Cứu Quốc. Nếu không gặp phản
ứng, phong trào này tràn vào
Sàigòn và cướp nhẹ chính quyền, để
thành
lập với danh nghĩa cách mạng, một chính phủ liên
hiệp quân dân do Cộng
sản lãnh đạo ngầm.
Nhưng, hoặc vì một tính toán sai lầm chiến thuật
của địa phương, hoặc
vì không kìm chế nổi những thù oán
cá nhân mà chúng đã nung nấu tai
nhiều địa phương, chúng đã để cho cái Hội Đồng
Nhân Dân Cứu Quốc ấy bắt
đầu đầu thanh toán thẳng Công giáo nơi con người...
Cao Văn Luận, Viện
trưởng Viện Đại Học Huế và nơi một số làng xã,
trại định cư Công giáo
mà chúng vào tàn phá trong
máu lửa.
Tình thế đã quá rõ: Chứng cớ đã đủ
để phe Công giáo có thể nhân danh
Công giáo, chống Cộng mà bỏ phản ứng lo bị chụp mũ.
Mà dù có bị chụp
mũ, bây giờ họ thấy cũng phải hành động, vì
lý do sống còn của tôn giáo
mình và của đất nước. Thế rồi, họ đã xông
vào hành động; bằng thiểu số
báo chí của họ, bằng hội thảo, bằng kiến nghị, bằng biểu
tình..
(tr.49-50)
Cuối phần trình bầy các diễn tiến các hoạt động tranh đấu, sau đây là
những nhận xét kiểm điểm của những người trực tiếp hay gián tiếp liên
hệ đến những hoạt động tranh đấu của người Công giáo thời kỳ 63-73.
Trao đổi với những người có liên hệ mật thiết với những tổ
chức tranh
đấu của Khối Di Cư, tôi đều thấy họ đánh giá nhẹ
và thấp những hoạt
động của khối và cả những người chủ chốt. Đại khái họ đều
cho rằng
những tổ chức hoạt động tranh đấu mang những tên khác nhau
(Khối Công
giáo, Công Dân Công giáo, Đại
Đoàn Kết vv.) không phải là tổ chức chính
trị chặt chẽ, vì nó chỉ có tính cách
tự phát, phản ứng tự vệ, mạnh ai
nấy làm, mỗi người lợi dụng Khối để phục vụ những mục tiêu
riêng của
mình, hay của nhóm mình mà thôi...
Thực tế, Khối cũng không nhằm mục đích chống Cộng như động cơ thúc đẩy
sự thành lập Khối, tuy lý tưởng Khối theo đuổi là chống Cộng.
Còn về người đứng đầu, thì mọi người đều đồng ý rằng Hoàng Quỳnh chỉ là
bù nhìn, hay cả nể, rất dễ bị lôi cuốn, bị thuyết phục, và bản chất
không hiếu chiến, hiếu thắng. Thậm chí có người tỏ ra tiếc là Hoàng
Quỳnh không được cố vấn kỹ và liên tục để có thể trở thành công cụ của
cách mạng như linh mục Nguyễn Quang Lãm đã nói. Hay như LM Đinh Công
Huỳnh, phó xứ và phụ tá của LM Hoàng Quỳnh (Xứ Bình An ) nói: làm việc
với Ngài rất khó, thường không biết đâu mà lần. Cứ người này, nhóm này
đến đề cao, nêu ý thức trách nhiệm, vai trò, thúc giục lên tiếng, làm
điều này điều nọ là cha làm, chẳng hỏi han ai, bàn bạc với ai. Giá các
ông trong nhóm Sống Đạotrước
đây, chịu khó thường xuyên đến với ngài, ở
cạnh luôn bên ngài để
giúp ý kiến thì ngài đã đi
đúng đường lối của Nhóm. Những ngày tháng
gần 30-4-1975, ngài cũng không chủ động, mọi việc
ngài làm đều do linh
mục Dương Hoàng Thanh (thân Nguyễn Văn Thiệu) đến
làm áp lực ngài.
Nhà sư Trí Quang, người đã có thời liên lạc, hợp tác với Hoàng Quỳnh,
cũng nói: Hoàng Quỳnh là một người dễ thuyết phục, là một ông già trầu
chân tu. Ông muốn lãnh đạo, nhưng không có óc lãnh đạo, không có tham
vọng, không dễ bị mua chuộc bằng tiền bạc. Những lần Hoàng Quỳnh vào
thăm tôi (trong tù hay ở nhà thương), công an chìm tỏ ra rất bực bội,
có đứa sau này thú nhận được lịnh hễ có linh mục Công giáo đến thăm thì
phải báo ngay, theo rõi cho biết tên, mục đích viếng thăm. Hoàng Quỳnh
không để ý đến lý thuyết. Nhưng sư Trí Quang đánh giá cao Trần Hữu
Thanh và Đinh Bình Định, phụ tá của Trần Hữu Thanh: Có chủ thuyết và
khả năng vận động quần chúng.
Phong trào nhân dân chống tham nhũng
Một số chính trị gia cho rằng: qua hiệp định Paris về Việt Nam,
đường
lối chiến lược của Mỹ đã rõ rệt: sau Việt Nam hóa
chiến tranh đến Việt
hoá hoà bình dựa trên chính
sách hoà hợp hoà giải dân tộc tiến
hành
việc thành lập chính phủ 3 thành phần.
Thành phần thứ nhất gồm những người chống Cộng mà đại
diện là chính
quyền Sàigòn, lúc này tỏ ra suy yếu,
vì những phân hóa xã hội và
chính
trị trầm trọng. Nếu cứ cái đà này ai cũng thấy chế
độ Sàigòn sẽ bị sụp
đổ trước hoặc ngay sau khi liên hiệp với Cộng sản. Do đó
muốn tiến hành
tốt công cuộc đấu tranh chính trị với cộng sản một
cách hoà bình, phải
làm sao cho vùng quốc gia mạnh. Muốn vậy phải lành
mạnh hoá và dân chủ
hóa nó.
Một cách cụ thể, sự lành mạnh hóa và
dân chủ hóa đòi hỏi thực hiện 3 mục tiêu:
1.- Phát động phong trào quần chúng đấu tranh đòi hỏi Tổng thống Thiệu
thay đổi hoặc nếu cần thay đổi cả Thiệu như hồi 1963 đã thay Diệm.
2- Phong trào này không phải đưa đến sự phân hóa như hồi 1963, trái lại
phải đưa đến liên kết rộng rãi các giới quần chúng các khối áp lực (
tôn giáo, trí thức, đảng phái, quân đội, sinh viên, học sinh..)
3- Phong trào sẽ tạo ra tổ chức, tìm lãnh tụ mới có hậu thuẫn thực sự
trong dân chúng, có tác phong dân chủ, cởi mở theo khuynh hướng tự do
tư sản, chứ không phải phong kiến, quan liêu như các phong trào hồi
1963, 64, có tư thế để ăn nói, để thảo luận với các lãnh tụ CS và không
mặc cảm, vì cùng xuất phát từ đấu tranh quần chúng và được quần chúng
hỗ trợ.
Ai và lực lượng nào đứng ra đảm nhận vai trò trên?
Nhìn vào thực trạng hồi đó, nguời Mỹ cũng như người quan sát chính trị
có con mắt tinh tường hẳn đều thấy chỉ có Công giáo là có điều kiện
thuận lợi hơn cả để để đảm nhận công cuộc chỉnh đốn nội bộ trong phe
quốc gia chống Cộng, chuẩn bị liên hiệp đấu tranh chính trị với cộng
sản trong chính phủ 3 thành phần nếu giải pháp này được chọn.
Theo cách nhạn định trên đây, Phật giáo không thể thực hiện việc phát
động này vì: Nội bộ chia rẽ quá trầm trọng, đã đến chỗ hận thù, đâm
chém nhau, cơ cấu tổ chức giáo hội cũng bị phân hóa trở thành tê liệt.
Mặt khác, Cộng sản xâm nhập sâu xa vào mọi cơ cấu tổ chức của Phật giáo
hoặc trực tiếp chi phối những sinh hoạt tranh đấu của giáo hội, hoặc
mượn cơ cấu, tổ chức, trụ sở, địa điểm của giáo hội, dùng danh nghĩa
của các đoàn thể Phật giáo để che dấu những hoạt động Cộng sản.
Những lãnh tụ Phật giáo làm mất tin tưởng của quần chúng, vì lún sâu
vào chính trị, và thế tục, còn một số giữ được phần nào uy tín thì lại
thuộc hạng người có tác phong quân chủ, phong kiến kiểu chuyên chính
thời Trung Cổ. (Chủ trương một thắng thế tôn giáo (triomphalisme
religieux), một quốc giáo. Đối với tín hữu thì được kính trọng, tôn
sùng tuyệt đối, cho nên đã coi những người làm chính trị, nhà cầm quyền
như gia nhân để sai bảo, theo kiểu lãnh chúa, gặp đâu chỉ đạo đó không
có bộ tham mưu, không nghiên cứu, không phân quyền, không tổ chức một
cách khoa học, mặc bản thân lại ít kiến thức về các vấn đề chuyên môn
như kinh tế, tài chính vân vân...
Những điểm thuận lợi của Công giáo
Hàng giáo phẩm Công giáo theo đường lối cố hữu của giáo hội ở Việt Nam
cũng như ở các nơi khác thường chỉ “mặc nhiên đồng lõa”với chế độ chính
trị mà ít khi công khai ủng hộ chế đo, nên vẫn giữ được tư thế “đứng
trên, đứng ngoài chính trị”. Nhờ đó bảo vệ được sự đoàn kết nội bộ.
Giới Công giáo (linh mục, trí thức, chính khách) có chia rẽ cũng không
đi đến chỗ đối địch, coi nhau như tử thù, và khi cần vẫn có thể ngồi
chung lại với nhau. Cơ cấu giáo hội vẫn còn nguyên vẹn: Cộng sản khó
thâm nhập và chi phối được, trừ một vài tổ chức thiểu số thiên tả...
Trong giới giáo sĩ trí thức đã hình thành một đội ngũ linh mục, trí
thức hiện đại, có trình độ văn hóa đạo đời, thức thời, với tác phong
kiểu tự do dân chủ tư sản, do đó phong trào chắc sẽ tìm thấy ở nơi đội
ngũ này những lãnh tụ mới khác hẳn với thế hệ già nua phong kiến Trung
cổ như Hoàng Quỳnh, Lê Hữu Từ.
Một lý do khác quan trọng phải dùng Công
giáo liên quan đến mục tiêu
liên kết các nhóm quốc gia chống cộng. Nếu
dùng Phật giáo lại đẩy Công
giáo vào cái thế chẳng đặng đừng, bênh vực
chính qưyền, do đó củng cố
thêm thành kiến với Công giáo: Công
giáo luôn luôn bảo vệ chính thể chế
độ quần chúng thù ghét và vì thế
đào sâu thêm hố chia rẽ trong các phe
Quốc gia chống Cộng. Trái lại dùng Công giáo
vào tư thế đối lập sẽ tạo
điều kiện cho Công giáo xóa bỏ mặc cảm luôn
luôn đi theo chính quyền và
do đó có niềm hãnh diện chia sẻ sát
cánh với những giới khối khác trong
việc tranh đấu chống một chế độ bị toàn dân khinh
ghét. Lý do sau cùng
dùng Công giáo chống Thiệu làm cho Thiệu
lúng túng và kẹt thực sự, vì
không thể chụp mũ một cách dễ dàng phong
trào chống đối là C.S và nếu
có chụp mũ cũng không gây được tác dụng nhiều
trong quần chúng.
Để chuẩn bị dư luận Công
giáo, Phong trào Công Lý Và
Hoà Bình, một tổ
chức của giáo hội được chính thức thực hiện ở V.N. Nhưng
phong trào này
chỉ giới hạn vào việc học tập, đào tạo cán bộ
mà thôi. Một cách rộng
rãi hơn và không trực tiếp tuỳ thuộc giáo
phẩm, một sốL.M và trí thức
gốc di cư đã cho ra tờ báo Công Lý
Hoà Bình và sau đó tờ Phát Triển
từ hồi 1971, để phổ biến những đường lối của Giáo hội sau
Công đồng
Vatican 2 về chính trị và xã hội. Những tham luận
phân tách chính trị
của Sông Thao, một bút hiệu khác của Bác sĩ
Trần Kim Tuyến, trong mục
“Những vấn đề hôm nay” là cột trụ của tuần
báo này.
Đọc qua những bài Sông Thao viết sau chuyến viếng thăm Bắc Kinh của
Nixon và Kissinger, thấy rõ ý định chuẩn bị cho dư luận Công giáo đón
nhận những thay đổi trong đường lối chiến lược mới của Hoa Kỳ, đồng
thời thúc đẩy hành động sao cho phù hợp với đường lối mới đó: “Chỉ cẩn
ghi nhận rằng: quả thật ngày nay Mỹ đã thay đổi toàn bộ chiến lược thế
giới của họ đối với CS căn cứ vào thực tế mới của thế giới hôm nay và
trong khuôn khổ những cố gắng thay đổi ấy, cố nhiên họ cũng phải thay
đổi chiến lược của họ, đối với C.S ở đây. Đó là nguồn gốc chương trình
gọi là Việt hóa chiến tranh.”
Trong khuôn khổ chiến lược mới đó, Sông Thao nêu câu hỏi cảnh giác dư
luận: Ngày nay, đối với Mỹ CS thôn tính miền Nam VN hay thắng thế ở
miền Nam VN có nhất thiết phải được hiểu là đã mất miền Nam VN như đối
với phía Quốc Gia hay không? Vì thế họ phải mau mau tìm cách thích nghi
với chính sách mới ấy, để có thể cứu lấy mình và sống thoát. Khi bắt
tay với Bắc Kinh, Hoa Kỳ theo đuổi một chính sách mới có thể gọi là
chính sách tam phân thế giới giữa ba đại cường mà lực lương suýt soát
tương đuơng với nhau: Hoa Kỳ, Nga Sô và Hoa Lục, một chính sách tam đầu
khác hẳn với chính sách thế giới lưỡng cực trước kia từng được tôn sùng
như một giáo điều vào những thập kỷ 50-60 sau Đệ Nhị Thế Chiến. Trong
chính sách thế giới tam đầu này, không còn kể gì đến ý thức hệ CS, khối
CS cũng không còn kể gì đến ý thức hệ dân chủ tự do và khối tự do chống
Cộng nữa. Ngày nay chỉ còn có 3 đại cường tranh chấp quyền lợi chiến
thuật và chiến lược với nhau. Làm sao tạo được một thế giằng co giữ
miếng giữa 3 anh khổng lồ ấy, khiến cho mỗi người lùi mỗi phiá, nếu có
tham vọng bá chủ sẽ lo sợ gặp phản ứng của hai phía kia, từ hai hướng
đổ lại theo lối lưỡng đầu thọ địch. Hoà bình thế giới dẫu là một nên
Hoà bình luôn luôn bấp bênh, vẫn có thể kéo dài nhờ ở cái thế giới
giằng co này.
Trong bối cảnh tổng quát đó, quan niệm tiền đồn chống CS trở thành lạc
hậu, và ví thử một tiền đồn nào đó có treo cờ CS thì cũng không hẳn có
nghĩa là Hoa Kỳ đã mất tiền đồn đó vào tay kẻ thù. Cố nhiên, các quốc
gia nhược tiểu đồng minh cũ của Hoa kỳ phải nhìn vào thực tế mà xét lại
thái độ: Ngày nay, quả thực đã rõ ràng không còn chuyện hai ý thức hệ,
hai chủ nghĩa duy vật, duy tâm, CS và Tư bản chống chọi với nhau. Không
còn quốc tế CS tranh đấu cho một ý thức hệ nữa, vì quan niệm một thế
giới giằng co trong khuôn khổ quyền lợi của các đại cường bất kể chế độ
và tổ chức nội bộ của các đại cường ấy.
Thực tế phũ phàng như vậy, không thể cứ nhắm mắt mãi trong ảo tưởng
tranh chấp ý thức hệ giữa các quốc gia. Sông Thao nêu trường hợp chiến
tranh Ấn Hồi và thái độ của Mỹ, Nga, Tàu làm ví dụ điển hình. Về sự
giằng co quyền lợi của họ với nhau bất chấp ý thức hệ mà họ tôn thờ.
Nga ủng hộ Ấn. Tầu ủng hộ Hồi, Mỹ toa rập với Tầu chống Ấn, nhưng cũng
toa rập với Nga giúp Bangladesh rút khỏi Hồi. Với đầu óc thực tiễn,
chính Hoa Ký đang cổ võ thái độ Trung lập ngoại giao nơi các quốc gia
nhỏ vốn là đồng minh chống Cộng của Hoa Kỳ, xa dần Hoa Kỳ, lập quan hệ
ngoại giao với Nga hoặc Trung Hoa, nghĩa là cổ võ cho các quốc gia đó
có một thái độ thiên tả đối ngoại để bảo đảm sự tồn tại của họ hơn, một
khi Hoa Kỳ chủ trương giải kết. Thế nhưng, để chuẩn bị thái độ thiên tả
đối ngoại ấy mà vẫn không sợ sụp đổ lọt vào tay CS ngay trong nước
mình, thì tất cả đều phải có một chế độ mạnh để làm chủ tình thế trong
chính nưốc mình đã. Mạnh để CS trong nuớc, CS địa phương không thể
khuynh loát nổi.
Trước khi phát động phong trào, Bác sĩ Tuyến
có soạn thảo một tài liệu
lý luận khoảng 50 trang in Ronéo, vạch rõ đường
lối chiến lược cũa Mỹ,
phân tách các tương quan lực lượng, có
tính cách chỉ đạo cho phong
trào, phổ biến trong bộ tham mưu của Linh mục Trần Hữu Thanh.
Ngoài ra,
vào cuối 1973, trong nội bộ Công giáo thấy phổ biến
ngầm hai tài liệu
gọi là “Phúc trình Broqueto” và
“Phúc trình của LM P.Gheđo” có
tác dụng
trực tiếp vào việc phát động phong trào.
Phúc trình Broqueto, mệnh danh là của một linh mục
dòng Biển Dức tại
Vatican sang thăm VN về làm phúc trình báo
cáo tình hình phê phán gắt
gao chế độ ông Thiệu, nhưng lại chỉ dẫn cho Công
giáo phải đứng lên
hành động để thay đổi tình hình. LM Trần Hữu Thanh
đã phân phát phúc
trình này trong giới Linh mục, sau này nhìn
nhận không có Linh mục nào
la Broqueto. Thế thì ai là tác giả?
Phúc trình mật của LM P.Ghedo, gửi Quốc vụ Khanh
toà thánh. Đây cũng là
báo cáo của một Linh mục sau chuyến viếng thăm VN. Người
thì có thật,
thăm viếng thật, vì có nhiều tiếp xúc,
chính tôi cũng có gặp. Nhưng bản
phúc trình thì không biết có thật hay
không, và nếu có,làm sao có thể
bị tiết lộ một điều chưa bao giờ xảy ra. Vậy ai mượn danh Linh mục
này
để phịa ra bản phúc trình? Một điều khác cũng cần
ghi nhận: Tại sao kế
hoạch Sao Chổi, tài liệu tối mật của ông Thiệu đề ra chống
các phong
trào tranh đấu cũng bị lộ và dân biểu Nguyễn Văn
Binh, thành viên lãnh
đạo PTNDCTN đem công bố tại hạ viện?
Điều đáng lưu ý về thời kỳ tranh đấu 63-73 của người Công giáo là thái
độ “bị động” qua những phản ứng chống đối nhằm những chính quyền và thế
lực bị coi là chịu áp lực của Phật Giáo hay do Phật giáo chủ xướng.
Trái lại, với sự ra đời của Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng, Công
giáo giữ vai trò chủ động và duy nhất chỉ nhằm chống chính quyền Nguyễn
Văn Thiệu, cá nhân ông Thiệu, quy tụ được Phật Giáo và cả các giới xã
hội khác. Cũng cần xác định ở đây, khi nói Công giáo, Phật giáo, không
ai nhân danh giáo phẩm, giáo hội mà chỉ có những cá nhân hay tập thể cá
nhân mà tranh đấu, tuy có sư, cha tham gia, nhưng không mang tính chất
tôn giáo hay nhằm mục đích tôn giáo nào.
Khởi đầu vụ Phật giáo năm 1963 là trái plastic nổ ở đài phát thanh Huế.
Mở đầu cuộc tranh đấu chống Thiệu năm 1974 cũng khởi đầu từ Huế, không
phải bằng chất nổ, mà bằng bản cáo trạng số 1 tố đích danh ông Thiệu
tham nhũng được công bố trong một cuộc biểu tình của 5.000 giáo dân Huế.
Báo chí bị kiểm duyệt, cấm không được tường thuật
buổi Mít tinh và đăng
bản cáo trạng, đương nhiên đưa giới báo chí
đến chỗ buộc phải phản đối,
vì tự do ngôn luận bị bót nghẹt, bị phủ nhận.
Ký giả, chủ báo bị truy
tố ra toà án cũng đương nhiên thúc đẩy giới
lập pháp, dân biểu, nghị sĩ
và giới luật sư, toà án phải có thái
độ ủng hộ cuộc tranh đấu cho tự do
ngôn luận. Thế là cả ba giới: báo chí, lập
pháp, tư pháp đều nhảy vào
vòng chiến liên kết với phong trào Nhân
dân chống tham nhũng, chống
Thiệu. Có lẽ đây là lần đâu tiên, giới
lập pháp, luật sư, toà án và báo
chí xuống đường. Chỉ vắng bóng một giới: thanh
niên, sinh viên, học
sinh và những đoàn thể quần chúng chịu sự chi
phối, lãnh đạo bí mật của
Thành đoàn, Thành uỷ Sàigòn Chợ Lớn,
Gia định. Tuy nhiên, một số cá
nhân nhà baó, dân biểu, nghị sĩ, linh mục,
nhà sư gắn bó ít nhiều với
các tổ chức C.S nằm vùng, cũng tham gia như LM Phan Khắc
Từ, Nguyễn
Ngọc Lan, Ni sư Huỳnh Liên. Do đó có thể nói
đây là những tranh đấu của
phe hữu chống Cộng ở thành phố.
Những phản ứng của báo chí (Trích trong Đứng Dậy)
Lời cáo biệt của báo Hoà Bình.
Buộc phải tự đình bản vì bị
tịch thu liên miên không sống nổi. L.M Trần Du, chống
Cộng cực hữu
tuyên bố: Chế độ này hoàn toàn nói
láo, bậy bạ, làm toàn những hành
động vi hiến. Ông đòi bỏ luật 19-69 và sắc luật
007, hai bản văn mà G.S
Hồ Hữu Tường ví như con dao kè cổ giới cầm bút.
Bản tuyên ngôn của nhóm
quốc gia và tình trạng đàn áp báo
chí tại miền Nam V.N, làm tại Sài gòn
ngày 4-9-74. Các dân biểu Nguyễn Văn Binh, Nguyễn
Tuấn Anh, Đặng Văn
Tiệp, Nguyễn Văn Cử, Dương Minh Kính, Nguyễn Trọng Nho, Nguyễn
Văn Kim,
Nguyễn Đức Cung, Vũ Công Minh, Đỗ Sinh Tứ, Nguyễn Hữu Liên.
Tuyên bố của Trung Tâm văn bút VN và nguy cơ
của báo chí VN hiện nay. (Thanh Lãng, ngày
1/9/1974).
Tuyên bố của khối Dân Tộc Xã Hội Hạ Nghị Viện trước sự gia tăng đàn áp
ngôn luận và báo chí của chính quyền. Truởng khối: Trần văn Tuyên. Các
dân biểu: Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Ngọc Nghĩa, Nguyễn Phúc Liên Bảo,
Nguyễn Công Hoan, Phan Thiệp, Huỳnh Ngọc Diêu, Trần Văn Thung, Trần
Ngọc Giao, Trần Văn Sơn, Trần Cao Để, Phan Xuân Huy, Tư Đồ Minh, Đinh
Xuân Dũng, Lê Đình Duyên, Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu, Nguyễn Văn Hàm,
Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Hữu Thời, Nguyễn Mậu, Nguyễn Phuớc Vĩnh Tùng,
Mai Ngọc Dược, Hồ Văn Minh, Đoàn Mại. (4-9-74.)
Tuyên cáo của Hội bảo vệ Nhân Quyền và
dân quyền VN, về đệ tứ quyền tại VNCH, 7-9-74. Tổng thư ký
Thái Lăng Nghiêm.
Hội thảo và đốt luật báo chí tại phòng Khánh tiết Hạ nghị viện. 14-9-74.
Tuyên ngôn công bố ngày 18-6-74 của các
L.M chống tham nhũng, bất công và tệ đoan xã hội.
Lời tuyên bố trong buổi họp báo tổ chức tại hội trường
giáo xứ Tân Sa Châu ngày 18-06-74 do LM Trần
Hữu Thanh đọc.
Thư ngỏ. LM Trần Hữu Thanh, đặc trách liên lạc tam thời PTNDCTN và tệ
đoan xã hội phản đối chính quyền ngăn chặn cuộc họp báo của các LM tại
Tân Sa Châu ngày 18-06-74 gửi Trung Tướng Tổng Thống.
Cáo trạng số 1 của PTNDCTN để cứu nước và kiến tạo hoà bình. Nêu 6
trường hợp tham nhũng: Nhà cửa, đất đai, đầu cơ phân bón, bệnh viện Vì
Dân, buôn bán bạch phiến, vụ gạo miền Trung. Huế ngày 8-9-74.
Nhìn lại quang cảnh một cuộc biểu diễn dân chủ ngoạn mục mà những người
tham gia có lẽ đều lấy làm hãnh diện, chúng tôi muốn tưởng niệm VNCH đã
để cho có thể có quang cành như vậy. Hẳn nhiên là ngày hôm nay nhìn
lại, không thể không nhận ra những ngây thơ ảo tưởng chính trị. Thời
VNCH trong sách báo thường nói: làm thế nào để giết Tổng Thống. VNCH có
hai Tổng Thống đều mang danh Công giáo. Ông Tổng Thống thời đệ nhất
cộng hoà bị sát hại trong một cuộc đảo chính do Phật giáo giữ vai trò
chủ chốt, còn ông Tổng Thống thời đệ nhị cộng hoà không bị sát hại,
nhưng bị phong trào đấu tranh chống tham nhũng do lực lượng Công giáo
điều động, là, mất uy tín và tư cách, cũng kể như bị sát hại về tinh
thần, qua những bản cáo trạng số 1,2,3… Những cuộc mít tinh đả đảo đòi
Tồng Thống từ chức do Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng (PTNDCTN) mà
người cầm đầu là linh mục Trần Hữu Thanh được dư luận thời đó coi là
“cha già dân tộc”, khởi xướng điều động kết hợp với các đoàn thể khác
như “Uỷ Ban tranh đấu đòi tự do báo chí và xuất bản”, “Lực lượng luật
sư tranh đấu”. Ba tổ chức này đã đạt được mọt chương trình hành động
chung, chọn ngày 31-10-1974 làm ngày biểu dương ý chí, đánh dấu sự hợp
tác cụ thể của 3 lực lượng.
Sóng Thần -vụ án lịch sử 31-10-1974 ngày báo chí va công lý thọ nạn
Tập tài liệu gồm hình ảnh,
phát biểu của những giới mà chức năng là lên
tiếng: Nhà tu, nhà báo, nhà giáo,
thầy cãi, để ghi ơn tất cả những đoàn
thể đã tham gia. Đây là một quy tụ đông đảo
đầy đủ nhất các tập thể
tranh đấu Công giáo, Phật giáo, trí thức tả
hữu… cùng nhau xuống đường.
Đây cũng là một tập hợp cuối cùng trước khi xảy ra
biến cố 30-4-1975.
Tập hình ảnh phát biểu này của báo
Sóng Thần
do Uyên Thao, Lê Văn Thiệp soạn thảo với sự cộng tác
của giaó sư Đặng
Thị Tám, nhà văn Trùng Dương, ký giả Trần
Phong Vũ, được ghi là tài
liệu nôi bộ, phổ biến hạn chế, mọi trích dịch khai
thác phải có sự thỏa
thuận của nhật báo Sóng Thần. Tập tài liệu,
hình ảnh này được tập thể báo Sóng Thần
soạn thảo để ghi ơn những cá nhân, đoàn thể
đã góp mặt, góp lời trong ngày 31-10-74.
Đặc biệt, tập thể Sóng Thần xin ghi ơn GHPGVN đã chiếu
sáng con đường đi của chúng tôi bằng ánh lửa Bi-Trí-Dũng, xin ghi ơn
PTCTN và riêng Linh Mục Trần Hữu Thanh đã sẵn sàng chiu chung một số
phận với chúng tôi, xin ghi ơn tập thể luật sư tranh đấu đã hào hiệp
bênh vực cho quyền Tự Do Báo Chí, xin ghi ơn anh em phế binh đã xả thả
tấm thân tàn phế đứng trên hàng đầu các lực lượng đấu tranh để đến với Sóng Thần,
xin ghi ơn các đại diện dân cử đã lăn mình vào các vòng rào kẽm gai để
tuyên dương Tự Do, xin ghi ơn các đồng nghiệp, anh em ký giả đã sát
cánh cùng chia xẻ cay đắng trong suốt ngày qua và xin ghi ơn tất cả
những giòng máu đã đổ vì bạo lực trong ngày 31-4-74.
Ngày nổi lửa hoả thiêu đạo luật 007 tại Hội Trường hạ viện 12-9-74.
Nghị viên Hà Thế Ruyệt, đại
diện Sóng Thần đã nổi lửa đốt luật 19-69 và sắc
luật 007-72 để tuyên dương quyền Tự do báo chí.
Ngày 20-9-74, Sóng Thần, Điện Tín, Đại Dân Tộc
bị tịch thu vì đăng nguyên văn Cáo trạng số 1. Thay
vì để Cảnh sát tịch thu, các báo được
phát không cho đồng bào và hỏa thiêu.
Ngày 10-10-74, Ký giả tập họp xuống đường goi là “Ngày ký giả đi ăn
mày”, đi từ Quốc Hội đến chợ Bến thành, kéo theo hàng chục ngàn người
tham dự, cuộc đi ăn mày kết thúc bằng pha đốt sắc luật 007 trước câu
lạc bộ báo chí. Nhiều hình ảnh ghi lại những biểu dương này.
1. Buổi chiều tạ từ của gia đình Sóng Thần.
Đủ mọi khuôn mặt trong mọi giới. Phía Phật giáo, có các Thượng Toạ
Quảng Độ, Đức Nhuận, Giác Đức. Phía Công giáo có Linh mục Trần Hữu
Thanh, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Nghị, Phan Khắc Từ. Phía quốc hội có
Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu, Tôn Ái Liêng, Tôn Thất Đính.. Dân biểu Nguyễn Văn
Kim, Nguyễn Trọng Nho, Lê Tấn Trang, Võ Long Triều, Nguyễn Công Hoan.
Phía văn hữu có LM Thanh Lãng, Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh, Nguyên Thị
Vinh. Các nghị viên có Nguyễn Đình Trị, Nguyễn Tấn Khang, Đoàn Kỉnh,
Dương Văn Long. Luật sư đoàn có các luật sư Bùi Tường Chiễu, Hồ Tri
Châu, Nguyễn Phước Đại, Đặng Thị Tám, Nguyễn Tường Bá, Nguyễn Văn Chức,
Đàm Quang Lâm, Đinh Thạch Bích. Thủ lãnh luật sư đoàn Huế, Lý Văn Hiệp
và hơn 20 luật sư trẻ khác.
Tổng thư ký Uyên Thao, đại
diện tập thể Sóng Thần mở đầu cuộc tiếp tân tạ từ, bằng
những lời giản dị: “Gia đình Sóng Thần vốn
gồm những người trẻ đã được khai sinh và nuôi dưỡng
bằng tình thương
yêu thắm thiết của đồng bào anh em khắp nước. Để đền
đáp lại tấm chân
tình đó, lúc nào Sóng Thần cũng
nguyện là một phần tử trong mọi gia đình mà
quí vị đại diện, Sóng Thần
lúc nào cũng là con, là em trong gia
đình, là bạn bè thân thuộc của bất cứ ai
có lòng nghĩ đến Ngày mai. Sóng Thần
có thể tắt tiếng vì đã dám đi đúng
con đường đã vạch, và đã hành xử
xứng đáng với Niềm Tin mọi người mọi giới đặt vào,
vì đã muốn đòi lại
tự do bị cướp mất. Nhưng dầu thế nào, dầu ở đâu,
Sóng Thần vẫn
hiện diện như là đứa con ngoan của gia đình, đứa em ngoan
của các bậc
huynh trưởng, bạn bè thân tín của các
thân hữu, học trò xứng đáng của
các bậc thầy đang ngồi đây đã hết lòng
thương yêu suốt ba năm qua.”
Lý Đại Nguyên thay mặt ban chủ biên trình bày lập trường mang nặng tình
ruột thịt gói ghém trong mục tiêu duy nhất: “Cách mạng dân tộc xã hội”.
Sau đó những người có mặt phát biểu: LM Thanh Lãng, chủ tịch Trung Tâm
văn bút, Nghị sĩ Vũ Văn Mẫu, chủ tịch Lực Lượng Hoà Giải Dân Tộc, LM
Trần Hữu Thanh, Chủ tịch PTNDCTN, Phan Bá Cầm, lãnh tụ Dân Xã Đảng, Lý
Văn Hiệp, thủ lãnh Luật sư đoàn, Hồ Tri Châu, cựu thủ lãnh luật sư đoàn
Sàigòn, TT Thích Giác Đức, Thích Quảng Độ.
2. Đêm tử thủ câu lạc bộ báo chí 30-10-74.
Đúng nửa đêm, cả vùng công trường vắng hoe nhưng đèn đuốc câu lạc bộ
vẫn sáng rực. Hoạt động thật tấp nập phía trong. Kẻ khẩu hiệu, viết
biểu ngữ, chăm sóc những cây đuốc, khúc củi sửa soạn cho ngọn lửa đêm
ký giả đốt đuốc soi sáng lương tâm Tổng Thống Thiệu. Ngày mai đây, như
dự định, một cuộc biểu dương ngày Báo Chí thọ nạn để tiễn Sóng Thần
ra toà sẽ được tổ chức. Toàn thể nhân viên ban chấp hành ba hội đoàn
báo chí, nghiệp đoàn ký giả Nam Việt, nghiệp đoàn ký giả Việt Nam, Hội
ái hữu ký giả đã đến để trực suốt đêm. Đủ mọi khuôn mặt. Lý Bình Hiệp,
Thái Dương, Tô Văn, Nguyễn Kiên Giang, Lê Tất Tiên, Huỳnh Thành Vị.. Họ
là những người đã để cả đời vào báo chí. Họ cần báo chí như cần thở và
họ đã quy tụ lại để cùng nhau xiết chặt hàng ngũ giành lấy lẽ sống,
giành quyền làm người. Có nhiều người đến với họ. Các ông Vũ Ngọc Các
của Nhân quyền, Hà Thế Ruyệt, Dương Văn Long, Đoàn Kỉnh của Hội Đồng Đô
Thành, Huỳnh Văn Nguyên ở tận Hội đồng tỉnh Phước Tuy. Các dân biểu
Nguyễn Ngọc Nghĩa, Lên Tấn Trạng, Nguyễn Công Hoan, Võ Long Triều, Trần
Cao Để, Phan Xuân Huy, Đinh Xuân Dũng, Hồ Ngọc Cứ, Trương Vĩ Trí, Hồ
Ngọc Nhuận đến chia sẻ với anh em ba hội đoàn ký giả.
3. Đêm Tân Chí Linh. Đêm canh thức, đêm soi sáng lương tâm công lý.
19 giờ 30 tối 30-10-74. Linh Mục Trần Hữu Thanh châm ngọn lửa đầu cho
ngọn đuốc sẽ thắp sáng đêm tối u mê. Ngọn lửa lan dần, bùng lên như sao
sa trong biển người tụ tập ở nhà thờ Tân Chí Linh, những bó đuốc trải
dài trong đêm canh thức để soi sáng lương tâm công lý.
Năm trăm ngọn đuốc bừng cháy để khởi sự cho cuộc biểu dương của các tín
hữu Thiên Chúa giáo, đoàn người biểu tình đương giống như một con rồng
lửa quay lộn đi theo đường Phạm Hồng Thái, xuống Ngã tư Bảy Hiền qua
Nguyễn Văn Thoại ngược lên Trương Minh Ký đến Tân Sa Châu. Hai bên
đường, đồng bào đổ ra như kiến để nhìn rõ những ngọn đuốc bập bùng reo
vui, để nghe tiếng dân biểu Nguyễn Trọng Nho, Nguyễn Văn Kim kể tội
tham nhũng. Tiếng của hai dân biểu vang dội trong lòng người. Một hình
nộm tham nhũng treo lủng lẳng trên chiếc xe “lam”. Nó đó, đồng bào ơi.
Nó hút máu mủ dân, nó hại anh, hại em, nó nuôi dưỡng chiến tranh, nó
bòn rút tiền quốc gia, làm bại hoại cả một thế hệ”.
Đoàn người đi trong đêm với đuốc soi đường bừng bừng hào khí. Đoàn
người đứng lại tại bệnh viện Vì Dân, một bệnh viện do Hội Phụ Nữ Phụng
Sự Xã hội dựng nên. Bản cáo trạng đã tố cáo đây là ổ buôn lậu, hội Phụ
nữ Phụng Sự Xã Hội do phu nhân Tổng Thống Thiệu làm chủ tịch. Tất cả
các ngọn đuốc được giơ cao 5 phút để soi sáng lương tâm và thức tỉnh
trách nhiệm của những người điều hành bệnh viện.
Sau đó, tại Tân Sa Châu đoàn đuốc đã được LM Thanh chờ sẵn đón vào
trong tiếng hoan hô vang dậy của hàng ngàn tham dự viên. Giáo dân Xóm
Mới cũng đã tới và đêm canh thức bắt đầu tại nơi mà tuyên ngôn của 301
vị chủ chiên đưọc công bố.
4. Ngày dài vô tận 31-10-74.
Nhà cầm quyền đã nhất định không để lòng dân được biểu lộ trong ngày
báo chí thọ nạn, nhất định ngăn cản không cho bất cứ hội đoàn nào đến
với Sóng Thần, đến với các nơi công lý được hành xử.
Từ các nhà báo
tuân hành quyết định
của ba hội đoàn báo chí, không một
toà soạn nào làm việc trong ngày báo
chí thọ nạn trừ ba tờ báo chính
quyền. Các toà soạn vẫn mở cửa, ký giả vẫn
có đến sớm nhưng là để sửa
soạn biểu dương cũng ra toà án với Sóng Thần.
Những biểu ngữ được căng ra trước các toà báo:
“Chúng tôi tiễn Sóng Thần ra
toà”, “bóp nghẹt báo chí
là bịt miệng dân”.
Từng nhóm người trói gà không chặt, vũ
khí là cây viết và suốt đời đói
rách đã phải xuống đường. Họ đi từ Độc Lập, từ Sóng Thần, từ Điện Tín, từ Trắng Đen...
Nhưng bạo lực đã ngăn họ lại. Đông nhất là từ
phía Võ Tánh, các ký giả
lũ lượt kéo xe xuôi đến Ngã sáu
Sàigòn thì gặp hàng rào kẽm gai
nên
khựng lại. Nhưng một số cũng lọt qua sau nhiều gay go để tới toà
soạn Trắng Đen,
địa điểm tập họp mới của báo chí sau khi Câu lạc Bộ
bị phong tỏa. Đoàn
người tới Ngã Tư Trương Công Định thì trận mưa
đá khởi sự. Đá xanh trải
đường được nhân viên công lực trữ sẵn bay ra như mưa.
Trong ngày báo
chí thọ nạn, có một điều là không có
phi tiễn, lựu đạn cay. Không phải
là chính phủ không muốn xài “loại vũ
khí chiến lược” này mà không thể
xài được vì Hoa Kỳ không bằng lòng.
Các tay dẹp biểu tình chuyên nghiệp
đã xử dụng loại vũ khí nội hóa - đá xanh
loại 4-6. Và loại vũ khí này
thật rẻ, thật nhiều thật sẵn. Những viên đá to cỡ nắm tay
ném như mưa
khiến đoàn người đành lui lại. Toà ở trước mắt,
nhưng công lý bị cản
đường khá nhiều ký giả trúng đá như Trần
Phương Hồ, Hà Huy Hà, Sơn Nam,
Chu Thao, Tô Văn. Đến 8 giở30, nhóm của Linh Mục Phan Khắc
Từ và đại
đức Nhật Thường, Pháp Lan xuất hiện với máy phóng
thanh. Hỗn loạn vẫn
tiếp diễn dọc Gia Long từ Ngã Sáu đến Trương Công
Định, đá từ phía Cảnh
sát chìm nổi bay ra tới tấp, mặc dù những người
biểu tình cam đoan
không bạo động, yêu cầu Cảnh Sát dừng tay. Nghị Sĩ
Mẫu, tay xách cặp,
tay cầm áo luật sư xuất hiện. Ông cùng một
vài dân biểu đã phải chịu
nhiều hòn đá và phải nhờ Chủ tịch Tối Cao
Pháp Viện can thiệp, Cảnh sát
mới hé mở kẽm gai cho một nhóm nhỏ người vượt qua để đến
toà cãi cho Sóng Thần.
5. Cánh quân thương phế binh.
Như lời đã hẹn, anh em phế binh cố
vượt mọi khó khăn đến tập trung tại
công trường Quách Thị Trang, chợ Bến Thành để
cùng nhau kéo ra toà với Sóng Thần.
Họ chỉ còn một chân. Họ chỉ còn một tay. Họ
đã từng hy sinh nơi đầu tên
mũi đạn nhưng họ vẫn là người tha thiết với Tự Do. Họ hẹn nhau,
nhưng
điểm hẹn đang nằm kín trong kẽm gai. Phế binh đến nhưng
không vào được.
Rồi những khuôn mặt trong Tổng Hội xuất hiện. Những lãnh
tụ phế binh
tiến lên đòi đi vào công trường Quách
Thị Trang. Cảnh sát bằng lòng sau
một hồi tranh cãi. Khỏang 300 người được cho qua và sau
đó hàng rào bít
lại. Nhóm phế binh vừa đến công trường căng biểu ngữ, toan
khởi hành về
phía toà thì cuộc đàn áp khởi sự.
Hằng trăm cảnh sát chìm từ các hốc
tối ùa ra võ trang gậy gộc phang lia lịa. Trước sự hung
bạo, anh em phế
binh đành thua. Có những anh tập tễnh bị đánh bỏ
dép dưới hàng kẽm gai.
Có những anh bị đánh không dậy được. Cả một
vùng rộng lớn không có xe
cộ lưu thông, chỉ có cảnh đánh đập. Toàn ban
chấp hành Trung Ương bị
đòn Hội Chợ ngất xỉu. Phó chủ tịch nguyễn Văn Quờn bị gẫy
xương sườn.
Chủ tịch Nguyễn Địch bị thương nặng. Nhiều nhân vật bị thất
tán như An
Khê, Phùng Đức Tân.
6. Từ Quốc Hội.
Toà nhà Hạ Viện lọt giữa vòng kẽm gai dày đặc. Những khuôn mặt tranh
đấu xuất hiện trước tiền đình.. Các dân biểu đối lập đã tìm được Tổng
thư Ký Hạ Viện Phạm Anh dẫn ông này qua Câu lạc Bộ báo chí để chứng
kiến tận mắt cảnh tan hoang. Cửa sắt bị cong, kính bể tan, hai ba bao
gạo còn lại tung tóe, hai cần xế bánh tét và bánh mì đổ nghiêng, giấy
tờ vung vãi khắp nơi. Mọi tủ đều bị mở tung ( Sau này bộ Nội vụ ra một
thông cáo khoe rằng Cảnh Sát đã lập thành tích thu được hàng loạt chiến
lợi phẩm gồm 12 móc sắt để móc kẽm gai, 2 lưỡi hái, 12 “bom lửa”, 13
cây bùi nhùi tẩm xăng, 2 thùng chứa nhiên liệu và 15 biểu ngữ ).
Từ tiền đình Hạ Viện phóng mắt xuống cả một con đường xưa kia sầm uất
tấp nập xe cộ, nay đìu hiu trong nắng sớm. Cửa đóng then gài, không một
sinh hoạt.
Dân biểu Dũng nhất định xin tham dự xuống đường đến toà án. Nhóm, người
tụ lại nơi đây đều đã trầy vi tróc vẩy. Dân biểu Kiều Mộng Thu, Nguyễn
Ngọc Nghĩa đều phải băng tay treo trên ngực. DB Nhuận đi khập khiểng.
DB Cứ phải chống gậy. Nhưng phải đến toà bằng bất cứ giá nào. Mỗi người
kéo ra khỏi rào Hạ Viện. Có 4 người xung phong khiên DB Dũng. Đoàn
người ít ỏi đó không đi được xa. Rào kẽm gai ở góc Pasteur nhất định
không mở. Không mở ra nhưng xiết lại khi những tiếng hô “tiến lên” vang
dậy. Vòng kẽm gai vây chặt những người toan đi chứng kiến công lý, kẽm
gai do những bàn tay thô bạo kéo đi quấn vào chân mọi người, chụp lên
cả băng ca của người bị thương. LM lan bị một cảnh sát viên lên gối vào
hạ bộ bất tỉnh. Đoàn người phải rút lui và một chiếc xe hơi của Hạ Viện
được trung dụng để chở Lm đi nhà thương. Nhưng lệnh trên đã nói rõ và
không có ngoại lê cho một người như LM Lan dù ông đang bị thương. Chiếc
xe chạy đủ mọi ngã nhưng rồi vẫn chưa ra khỏi vòng kẽm gai. Không những
thế, chiếc xe còn bị đâm thủng lốp nằm cạnh bồn nước trước toà Đô
chánh. LM Lan được khênh lên nằm cạnh hàng dương liễu tránh nắng. Sau
đó nhờ bắt gặp DB Vương Đình Thông (thân chính). LM Lan mới được cho đi
bệnh viện Bình Dân.
7. Tân Sa Châu, đường đi không đến.
Lòng run sợ của những kẻ không dám trực diện với công lý thực sự diễn
ra ở đây mà biểu tượng vì 5 hàng rào kẽm gai, hằng ngàn Cảnh sát dã
chiến võ trang gậy, roi mây, khiên và cả một đống đá cao ngất. Nhất
quyết ngăn cản những người dự đêm canh thức đến toà án.
Giáo dân nhất quyết hộ tống LM Thanh ra toà với tư cách nhân chứng
trong vụ xử Sóng Thần. Năm đợt xung kích đã trở thành năm lần giao
tranh dữ dội với Cảnh sát dã chiến, và LM Thanh bị đánh vỡ tan kiếng té
xấp trên mặt đường. Cùng với các dân biểu trong nhóm Quốc gia. LM Thanh
trở lại dùng điện thoại chất vấn các chức việc trong chính quyền, nhưng
đều được trả lời không gặp.
Không khí bừng bừng như sóng dậy. Hai chiếc xe cảnh sát đã bị đốt, ba
“tù binh”, 2 chìm một nổi được giải tới LM Đinh Bình Định, nhưng sau đó
được thơi thới ra về để chứng tỏ sự thượng tôn pháp luật của những
người chỉ muốn công lý sáng tỏ.
Giữa cảnh bốc lửa với gạch đá ngổn ngang khắp đường, bóng dáng trang
nhã của Đức Cha Huỳnh văn Nghi xuất hiện. Đức giám mục Nghi đến tận nơi
để nhìn thấy bạo lực, để thấy giáo dân bị đàn áp, để thấy công lý không
được sáng tỏ. Đức Giám mục Nghi đã vào họp với bộ Tham mưu phong trào
và sau đó ra về trong tiếng cổ võ của giáo dân. Sự có mặt của Đức Giám
Mục Nghi là một khích lệ quá lớn lao. Các LM sẽ không bao giờ quên giáo
dân. Thừa sai của Chúa lúc nào cũng ở giữa các con chiên. Một đại tá
Cảnh sát mặc thường phục đến điều đình với LM Thanh. Nhưng yêu cầu của
LM xin để giáo dân Bùi Phát được đến xum họp đã không được thỏa mãn
khiến LM Thanh chán nản lắc đầu đi vào nhà thờ. Sau khi hội họp bàn
luận, bộ Tham mưu quyết định họp mít tinh tại chỗ và hết sức can ngăn
những ai quá tức giận muốn xông ra hỗn chiến với Cảnh sát. Một bản
quyết nghị được đọc lên để biểu dương ý muốn của toàn thể dân chúng là
đòi TT Thiệu phải từ chức ngay.
Lúc đó đã quá trưa. Ban tổ chức tuyên bố giải tán và một cuộc họp báo
được tổ chức. LM Thanh xác nhận ông là tác giả bản cáo trạng và ông sẵn
sàng đến toà để nhận điều này. Nhưng chính quyền đã sợ sự thật ố chính
quyền đã không dám để ông đi ố Người nói ra sẵn sàng để đối chất thì
không biỳ truy tố, kẻ làm bổn phận thông tin ngay tình thì bị điệu ra
toà. Liệu công lý có thức tỉnh được chăng.. Đường từ Tân sa Châu lên
pháp đình không xa nhưng đường đi không đến..
8. Hãy ra để thấy tận mắt.
Nhóm người duy nhất vào được toà án
là các luật sư. Từ địa điểm trải
mền, họ kéo đến toà, vượt qua 3 nút chặn.
Có lẽ đã được lệnh, cảnh sát
mở lối cho họ đi. Dẫn đầu là các cựu thủ lãnh Hồ
tri Châu, Bùi tường
Chiểu, thủ lãnh LSĐ Huế, Lý Văn Hiệp. LS Chiểu tay cầm
văn thư của Tối
Cao Pháp Viện gửi cho LS Hồ Tri Châu xác nhận vụ
án sẽ được xét xử
nghiêm chỉnh theo luật pháp quy định vá quyển biện
hộ của các luật sư
bênh vực cho bị cáo phải được tôn trọng triệt để. Ba
thế hệ luật sư đến
cổng, cánh cửa sắt nặng nề mở ra, nhưng mở một cách rụt
rè, mở đủ để đi
hàng một vào. Và cánh cửa công
lý cũng đã hấp tấp đóng vội lại khiến
một vài luật sư chậm chân đành phải đứng
ngoài nhìn công lý qua kẽm
gai. Một nhóm luật sư khác lọt vào được cung cấm
điạ do L.S Vũ Văn Mẫu
hướng dẫn. Tới một nút chặn, Cảnh sát nhất định
không mở rào. Họ yêu
cầu các luật sư dẫm lên kẽm gai mà đi và họ
đưa ra một thanh gỗ lớn để
lót, nhưng luật sư Mẫu không chịu. Ông nói:
“Luật sư đến toà án là làm
bổn phận, đường đến toà không thể ngăn trở, không
thể đi một cách lén
lút.” Cuối cùng CS phải mở vòng rào.
LS Mẫu đi thẳng tới dinh Gia Long,
trụ sở của Tối cao pháp viện.
Ngày 31-10 đã được mệnh danh là ngày
dài vô tận. Hàng chục ngàn người
đã sống trong ngày thử thách của công
lý. Hàng triệu người khác ở khắp
nước chú tâm theo dõi. Trái tim
Sàigòn đã ngừng đập và công lý
vẫn chưa
được sáng tỏ. Có những người đã bị thương nặng,
có những nguời bị đánh
đập tàn nhẫn, có những nguời đã phải đứng
nhìn nhà, nhìn sở không vào
được, có những người mất một buổi chợ. Nhưng hẳn rằng
không ai quên
được ngày 31-10. Toà đã đình vụ xử với một
lý do quái đản, là không
được chuyển giao hồ sơ. Người nữ kí giả bé nhỏ đầu
chít khăn tang đại
diện cho tập thể Sóng Thần lại trở về tiếp tục làm báo.
*
Sau gần 30 năm, đọc lại tập Vụ án
lịch sử 31-10-1974, ngày báo chí và
công lý thọ nạn của nhóm Hà Thúc
Nhơn, chủ biên nhật báo Sóng Thầnđầu
sóng ngọn gió, tôi thấy cảm mến những người chủ
trương biên tập mà
tôi chỉ nghe biết, chưa quen biết, một lòng cảm mến
mà tôi đã không
thấy khi nhận được tập này lúc nó ra đời..Những
người viết là nhà văn,
nhà thơ, nhà báo, đã kể lại một cách
trung thực và chân thành sự hoà
hợp giữa những người thuộc nhiều thành phần tôn
giáo, chính trị, địa
phương khác nhau qua các sinh hoạt hội thảo đêm
canh thức, mít ting tại
chỗ hay xuống đường tuần hành. Chưa bao giờ sau những năm
tháng chia rẽ
đố kỵ chống đối nhau, được nhìn thấy cảnh tượng Sư, cha, quan
toà, luật
sư, nhà văn, nh báo, người Nam kẻ Bắc, già trẻ
thuộc hai ba thế hệ tả
hữu đều chung một lòng.
Ngoài ra, tôi cũng cám ơn báo Sóng Thần đã thực hiện được
tập tài liệu đầy hình ảnh những người đã tham gia cuộc tranh đấu. Qua
tập này, tôi có được hình ảnh những người tôi quen thân, quen biết hay
chỉ nghe biết, bây giờ nhiều người đã qua đời vì tuổi già như thẩm phán
Trần Thúc Linh, đã chết trong trại cải tạo như luật sư Trần Văn Tuyên,
dân biểu Đặng Văn Tiếp, hay thân xác bị chôn vùi dưới lòng biển Thái
Bình Dương như luật sư Nguyễn Hữu Lành. Còn những người vẫn sống thì
phân tán khắp bốn phương trời như luật sư Bùi Chánh Thời... Tôi nghĩ
nhiều người đã có mặt trong cuộc tranh đấu hay chỉ chứng kiến, muốn có
tập Album kỷ niệm thật đẹp này. Rất tiếc, tôi không có điều kiện tài
chánh ngay chỉ để sao chụp, nên tôi đã gửi lại nhà văn Uyên Thao, đại
diện cho nhóm, hy vọng nhóm có điều kiện hơn, nếu không xuất bản được,
ít ra sao chụp gửi cho những ai muốn có, nhất là những người đã tham
gia mà nhóm muốn bày tỏ lòng cảm tạ.
Sau ngày 31-10-1974, các đoàn thể vẫn tiếp tục tổ chức đêm canh thức,
đốt đuốc cầu nguyện, họp báo biểu tình bầy tỏ bất tín nhiệm Tổng Thống.
Nhưng tất cả những biểu lộ chống đối tuy được đông đảo quần chúng ủng
hộ, quy tụ nhiều xu hướng chính trị tôn giáo ngồi lại được với nhau,
vẫn không nhanh chóng chuyển từ chống đối truất phế miệng Tổng Thống
sang hành động thiết lập những thể chế mới, đặt người cầm đâu thay ông
Thiệu. Cho đến khi xảy ra cuộc tổng tấn công mở đầu bằng việc đánh
chiếm Ban Mê Thuột. Biến cố này làm cho các phong trào tranh đấu, đặc
biệt PTNDCTN rất bối rối, bị đẩy vào thế kẹt không thể chống ông Thiệu
được nữa, vì ông ta là Tổng chỉ huy quân đội. Ông Thiệu mất uy tín về
chính trị và cả về quân sự, vì tinh thần quân đội thật giao động khi
thấy Công giáo chống ông Thiệu. Có nhiều binh sĩ bày tỏ bất tín nhiệm
Tổng Thống bằng bảng hiệu đeo trước ngực trong các cuộc biểu tình. Tại
sao Công giáo chống ông Thiệu? Vào cuối 1973 trong nội bộ Công giáo,
thấy phổ biến 2 tài liệu tác động mạnh mẽ vào viêc phát động PTNDCTN:
Khi cộng quân mở chiến dịch tấn
công miền Nam không có Tổng Thống hay
vẫn còn cũng kể như không vì ông đã
mất niềm tin hậu thuẫn của dân
chúng. Nhưng vẫn còn Tổng Tư lệnh quân đội, buộc
chỉ huy các cấp phải
tuân lệnh mặc dầu toàn là những lệnh thật
tiêu cực phi lý. Nhiều chỗ ở
quân đoàn 2,1,3 những đơn vị quân đội đang ở tư thế
chiến thắng và địch
đợi ra hàng thì có lệnh phải rút ngay. (
Xem Nguyên Sa, Lê Bá Chữ, Lịch sử ngàn người
viết, nxb. Đời, 1995).
Nhìn rộng hơn, tôi mong muốn tập tài liệu có hình ảnh về cuộc tranh đấu
của PTNDCTN kết hợp với báo chí, toà án được xuất bản thành sách và nếu
có thể được dựng thành phim tài liệu mà các Hãng thông tấn ngoại quốc
chắc còn giữ được những khúc phim có thể đóng góp phần của họ để gửi
tới đồng bào miền Bắc, kiều bào ở nước ngoài, đặc biệt những nhóm trí
thức khuynh tả chống chiến tranh. Và người ngoại quốc chính gốc hay
người Việt có quốc tịch nước ngoài vẫn còn có những thiên kiến miệt thị
VNCH. Những ai sống ở các nước dân chủ phương tây dễ dàng nhận ra những
điểm tương đồng giữa những cuộc biểu tình tuần hành trên đường phố ở
các nước đó với những vụ xuống đuờng ở Sàigòn vào cuối năm 1974. Cũng
cùng một cảnh tượng: Hàng rào kẽm gai, những nút chặn, CS mặc áo giáp
đánh đập người biểu tình, lựu đạn cay… Cũng cùng những lý do giải thích
tại sao có thể có biểu tình chống đối. Một sự tương đồng xét về bản
chất chỉ khác nhau về mức độ biểu lộ. Dó đó là sự hình thành ở các đô
thị, nhất là Sàigòn:
Một tầng lớp Trung lưu có nếp sống đủ ăn và trình độ kién thức trên dưới đại học
Một thể chế chính trị tam quyền phân lập: Lập pháp,
hành pháp, tư pháp tương đối được tôn trọng.
Một xã hội dân sự (Société civile) gồm những giới nghề nghiệp như luật
sư, thầy thuốc, nhà giáo, nhà văn, nhà báo với những hiệp hội nghiệp
đoàn tự quản.
Một chính quyền gọi là độc tài, nhưng không phải toàn trị, hay thứ độc
tài của các nước Châu Phi, Châu Mỹ Latinh, một thứ độc tài cho phép đối
lập nhằm thay đổi những chính quyền mà không nhằm lật đổ chế độ bằng
bạo lực vũ trang, tóm lại một thứ độc tài hiểu theo nghĩa chuyên chính
vô sản. (dictature libérale) như J. Christophe Rufin đã giải thích
trong cuốn La dictature libérale, nhà xuất bản Clattès 1994.
LM Trần Hữu Thanh trong bài trả lời phỏng vấn báo Đại dân tộc
tháng 12-1974, nói rằng: Phong trào tố cáo đích danh Tổng Thống, chỉ để
đòi hỏi ông từ chức mà vẫn giữ nguyên vẹn chế độ chính xã hội miền Nam
VNCH.
Điều đáng lưu ý ở đây là sự chuyển mình của giới giáo sĩ giáo dân đa số
gốc Bắc di cư. 301 Linh mục ký vào tuyên ngôn chống tham nhũng, phần
đông xuất thân từ các Đại chủng viện, buộc chủng sinh phải có tú tài
hay trình độ tương đương để được nhận vào học. Sàigòn, Gia định tập
trung một số Linh mục dòng, triều đi du học từ 1950, sau 54, những
người gốc Bắc cũng như gốc Nam đều quy tụ chung qunh vùng Sàigòn, Gia
định. Hằng trăm trí thức, tu sĩ nam nữ du học trở về không phải chỉ giữ
vai trò ở các cơ sở giáo dục mà cả ở các cơ quan nhà nước. Giáo dân ở
vùng ven đô (Hố Nai, Xóm Mới ) và ngoại ô như Phú Nhuận, Tân Bình được
hưởng những thành quả đô thị hóa về kinh tế, giáo dục. Về mặt tôn giáo,
họ được học hỏi qua các tổ chức Công lý và Hoà bình, về đường lối cởi
mở của công đồng Vatican 2, biến những LM di cư chống Cộng không đội
trời chung như Trần Ngọc Nhuận (Phát Diệm), Nguyễn Viết Khai (Vinh)
thành cán bộ giảng dạy xác tín đường lối của Cộng đồng, đặc biệt về
thái độ đối với C.S.
Trong bài trả lời phỏng vấn kể trên, LM Trần Hữu Thanh, một trí thức du
học, đã xác định lập trường của PTNDCTN, đối với miền Bắc VNDCCH và mặt
trân GPMN: Nhìn nhan người CS là người anh em, chấp nhận chung sống với
người CS miền Nam: “Chúng ta không thể đưa những người CS miền Nam đi
chỗ nào khác. Đây là quê hương của họ cũng là quê hương của chúng ta.
Không phải vì vấn đề chánh kiến khác nhau mà chúng ta có quyền đuổi họ
đi được”.
Dĩ nhiên, miền Nam phải làm cách mạng xã hội, chống tham nhũng để có
mạnh thế về chính trị, và khi đã có thế mạnh thì không sợ gì chung
sống. Mười năm trước, nhóm Hành Trình, Đất Nước
chúng tôi đã tuyên bố: Người CS là anh em, đã đưa ra chủ trương làm
Cách mạng xã hội không Cộng sản thì bị phản đối chụp mũ, bây giờ thì
quan điểm đó đã được chấp nhận một chủ trương đúng đắn và giàu tính
nhân văn.
Tờ Diễn Đàn(Forum) số 108, tháng 6-2001 ở
Paris,
trong bài xã luận ký tên Diễn Đàn
“Đàn áp, tôn giáo, những tiếng thở
dài”, nhân nói về vụ LM Nguyễn Văn Lý
đã bầy tỏ thái độ miệt thị điều
tờ báo gọi là não trạng Hố Nai, ăn thua đủ với CS,
tiêu biểu xu hướng
cực đoan, phản động trong giới Công giáo. Bài
báo gây nhiều phản ứng.
Xin thưa với các bạn chủ trương Diễn Đàn: Vùng ven đô và ngoại
ô Sàigòn, đa số do người Công giáo di cư lập nghiệp được các nhà lãnh
đạo Công giáo gọi là vòng đai chiến lược bao quanh Sàigòn. Nếu giáo sĩ-
giáo dân những vùng đó vẫn giữ một não trạng Hố Nai không đội trời
chung với CS thì bộ đội tiến vào Sàigòn đã không dễ dàng như ai nấy đều
biết. Chỉ có một phát súng bắn vu vơ vào nhà thờ Tân Sa Châu. Những bạn
Diễn Đàn mà ai cũng biết xu hướng chính trị ra sao, nếu các bạn
chịu khó tìm hiểu nghiên cứu chính thực tế, thay vì bầy tỏ thái độ
khinh miệt người Công giáo Hố Nai, thì phải biết ơn họ vì nhờ họ “giải
phóng” Sàigòn mà các bạn mong muốn vui mừng thời đó đã không xảy ra
chém giết đẫm máu.
Còn đối với những người ngoại quốc
vẫn giữ thái độ khinh miệt VNCH thì
tập tài liệu này là một bằng chứng về chế độ VNCH
1974 đã đạt được
những điều kiện quy định một chế độ dân chủ, dù chỉ
là hình thức theo
kiểu nói của người Mác xít mà mi