Nhìn lại những chặng đường
đã qua
Nguyễn Văn Trung
Phần VIII
Vẽ đường cho hươu chạy
Nguyễn văn Trung
1 2 3 4 5 6 7 8
“…
Tôi cố gắng viết lại những gì tôi
đã đọc đã thấy, để một ngày
nào đó,
thế hệ hôm nay và mai sau, dĩ nhiên chấp
nhận hiện tại, và có những lựa
chọn từ hiện tại, nhưng cũng buộc phải nghĩ lại quá khứ để
có được
những lựa chọn xác đáng…”
Vẽ đường cho hươu chạy
(Vì đâu nên nỗi cái nghiệp tử
hình của
ông Ngô Đình Cẩn, Cố vấn chỉ đạo Miền
Trung?)
Lời nói đầu
Mức độ đáng tin cậy của một công trình
biên khảo tuỳ thuộc vào điều
kiện có tài liệu và cách
đọc tài liệu. Trở ngại đáng kể của mọi
tài
liệu từ hồi ký, sách, báo, sử
ký, đến báo cáo nội bộ tối mật,
taát caû
ñeàu khó tránh được thiếu
sót, vì người ta không muốn hoặc
không thể
nói hết những gì cần nói,
và nói thật những gì người ta biết.
Lời nói gồm nội dung cái nói ra,
cái
có ý nói ra và
cái không
nói ra (les non-dits)
nghĩa là những cái cố ý hay
không cố
ý nói ra. Nói cách
khác có
những
cái bị che dấu trong lời nói ra; vậy
làm sao biết
được những cái không
nói ra mà không phải do suy diễn
võ
đoán? Bằng cách móc nối, so
sánh
cái nói ra và cái
không nói ra
trong mối liên hệ những tài liệu của một
người nói hoặc của nhiều người cùng
nói veà
một vấn đề.
Viết về ông
Ngô Đình
Cẩn, điều tôi muốn tìm hiểu là mối quan
hệ giữa
ông Ngô Đình Cẩn và Thượng
toa Thích
Trí Quang,
bằng cách đối chiếu những điều đã nói
ra với những
cái không nói ra
trong các tài liệu mà tôi
có, để từ
đó phác thảo một nhận định về vụ
phật giáo, về cái gọi là
“chính
sách kỳ thị đàn áp Phật
Giáo”
mà một số
sách, báo đã quy cho gia
đình ông
Ngô Ðình Diệm mà ông
Cẩn là một
thành
viên.
I.
Báo chí Sài Gòn tường thuật
vụ xử án và xử bắn ông Cẩn
Báo Thần Chung ra chương đặc biệt về Những vụ án
thế kỷ,
số 9 ngày 18 và 19/07/1965. Dưới đây
là
những nét chính của vụ xử án
Ông Cẩn được
thuật lại theo tài liệu của báo.
Toà án cách mạng xử vụ Ngô
Đình Cẩn
nhóm tại pháp đình Sài
Gòn
ngày
6/4/1964 gồm các mục: Tóm tắt nội vụ, căn cước
của
Ngô Đình Cẩn, thành
phần toà án, bản án mật vụ, tường
thuật vụ xử bắn
5 giờ chiều thứ bảy
9/5/1964, báo đăng nhiều hình ảnh: Ông
Lê Văn
Thụ chánh thẩm, cảnh
phiên toà, công tố viện thiếu
tá Lê Văn
Đức, luật sư Võ Văn Quan, ảnh
Ngô Đình Cẩn trước toà án,
ảnh bị cột
vào cột xử bắn, ảnh sau khi bị xử
bắn, xe tang chở xác đi chôn, bút
tích
ông Cẩn ghi trên thiệp gửi luật
sư Quan xin hết lòng cảm tạ.
Tờ Tiếng nói dân tộc,
phụ trang đặt biệt kỷ niệm ngày 1/11/1963 có
bài
tường thuật những giờ
phút cuối cùng của ông Cẩn trước khi bị
xử bắn,
phóng viên báo có ghi
lại cảm tưởng: "Vô cùng kinh ngạc về
thái độ dửng
dưng và thật trầm
tĩnh của con người được mệnh danh là cậu Út Trầu,
lúc mà Ngô Ðình Cẩn
biết bị bác đơn xin ân xá".
Ký giả đưa ra
nhiều giả thuyết giải thích.
Ông Cẩn im lặng chỉ hở môi để cám ơn
luật sư Quan
và yêu cầu đừng bịt
mắt ông vì ông không sợ chết.
Điều đáng
lưu ý là những tội đưa ra để
kết án ông Cẩn, không có tội
nào
liên quan đến kỳ thị, đàn áp
tàn sát
phật tử, ngay cả nói xa gần đến vụ Phật Giáo cũng
không, mặc dầu vụ
Phật Giáo khởi đầu từ Miền Trung là
nguyên
nhân trực tiếp làm sụp đổ
chế độ đệ nhất Cộng Hoà và dẫn đến bản
án tử
hình.của ông Cẩn trước toà
“Cách mạng” tại Sài
Gòn.
Những ai đã chứng
kiến phiên
toà xử ông Cẩn và cảnh xử bắn
ông Ngô
Đình
Cẩn, có lẽ cho đến bây giờ, vẫn không
nghĩ
khác những gì ông Nam Đình,
một ký giả lão thành của
làng báo
Miền Nam, đã ghi lại như tài liệu để
nghiên cứu. Báo Thần Chung cũng như nhiều
báo
khác, đều nêu thắc mắc tại sao ông Cẩn
im lặng
bình thản trước phiên toà xử
và lúc
bị bắn.
Tôi cũng thắc mắc tự hỏi mà không giải
thích
được. Phải đợi đến năm 1992, nhóm đảng viên Cộng
sản, cựu
tù nhân của Ðội Công
Tác Ðặc Biệt
Miền Trung( ÐCTÐBMT), phổ biến tập gọi là
Bội phản hay
chân chính ở
Sài Gòn, và luật sư Võ Văn
Quan biện hộ cho
ông Cẩn cho đăng hồi ký về vụ án trong
tờ Thế Giới
Ngày Nay
ở Kansas, Hoa Kỳ, cũng vào khoảng cuối năm 1992. Hai
tài
liều khá xa xôi nhưng cùng soi
chút
ánh sáng về 2 điểm chính:
1. Ông Cẩn
không những không phải
là thủ phạm hay ít ra là có
dính
líu
tới vụ gọi là đàn áp Phật
Giáo, mà
còn ủng hộ cuộc tranh đấu Phật giáo,
chống lại những biện pháp ông Diệm, Ông
Nhu đưa ra
vì nghe theo ông Ngô
Ðìng Thục thay vì nghe theo ông
Cẩn.
2. Thành tích diệt cộng của ông Cẩn
là tuyệt vời, đã đem lại an ninh
cho miền trung, đảm bảo một cách hiệu nghiệm mục
tiêu số 1 liên quan
đến sự tồn tại của chế độ VNCH. [1]
Những điểm kể trên ông Cẩn không thể
nói ra được, và dù có
nói ra, cũng
chẳng ai tin, nên ông chỉ còn biết im
lặng và lựa chọn thái độ thích
hợp mà tôn giáo của ông
đã dạy ông: Tha thứ cho những người
đáng lẽ
phải biết ơn công lao của ông, lại đi
thù ghét ông, kết án
ông. Chính
vị linh mục tuyên úy, người gần gũi Ngô
Ðình Cẩn vào những giờ phút
sau
cùng đã tiết lộ điều này:
Ông Cẩn theo gương chúa trước khi chết
trên
thập giá, đã nói "lạy cha xin tha cho
họ vì họ không biết việc họ làm".
II. Bội Phản Hay Chân
Chính
Bội Phản Hay Chân
Chính là cuốn hồi ký tập thể của một
số cựu tù
nhân của ÐCTÐBMT. Một số người trong
nhóm đảng viên Cộng sản hoạt động
bí mật tại miền nam Việt Nam bị Ðội Công
Tác Ðặc Biệt Miền Trung do Ngô
Ðình Cẩn cố vấn chỉ đạo, khi nghe Lê
Ðức Thọ, trưởng ban Tổ chức Trung
Ương, nói là «những người bị
tù dưới chế độ Mỹ Nguỵ, đều có vấn đề»,
họ cảm thấy vô cùng uất hận. Sau năm 1975, họ
đã bị mất chức, bị khai
trừ khỏi đảng Cộng sản, nhiều người chết trong niềm oán hận
đảng. Họ
định xuất bản cuốn hồi ký một cách công
khai. Tài liệu của nhóm cựu tù
nhân này soạn ra mục đích là
để gửi cho đảng Cộng sản Việt Nam, đòi
phục hồi danh dự cho các đồng chí của ho,
có người mất chức và bị khai
trừ có người đã chết, dĩ nhiên phải tỏ
ra rất quyết tâm tin tưởng ở
đảng. Nhưng trong các bài hay thư viết cho
tôi, tâm sự của soạn giả lại
khác. Họ nhờ Ông Trần Quốc Hương, người chỉ huy
mạng lưới tình báo
chiến lược Cộng sản, cũng từng bị bắt, họ gửi thư tay cho
Phó Bí Thư
thành uỷ TPHCM để nhờ nhà xuất bản TPHCM, nhưng
chờ mãi không được, họ
liền in 100 tập, đem phổ biến vào tháng 9-92.
Trên trang đầu, người biên tập viết:
«Bằng tác phẩm này, tôi
muốn nói với Ðảng, với người yêu kẻ
ghét, nói thay cho người đã chết
và
cho cả người còn sống. Xin gửi tới các đồng
chí Ủy Viên, Ban chấp hành
Trung Ương Ðảng, Ủy viên ban bí thư
TƯÐ vv.» Sau khi đọc, tôi liên
lạc với soạn giả để tìm hiểu thêm. Ông
lần lượt trao cho tôi các bức
thư gửi đại diện ban Bí thư TƯ, thư thông
báo cho các đồng chí của ông
kết quả các buổi gặp gỡ với các cấp
lãnh đạo đảng, 40 cuốn băng ghi lại
phát biểu của từng người và những trao đổi giữa
họ với nhau. Thêm vào
đó là một bài viết: "Nhà
văn bất đắc dĩ" nội dung kể lại diễn tiến các
buổi sinh hoạt của nhóm.
Trong những thư viết riêng cho tôi, ông
chỉ nói tới các tài liệu, những
dụng ý ngầm không nói ra qua những điều
viết ra, và cho biết 40 cuốn
băng là trung thực hơn cả. Những cuốn băng này
«do tôi bảo quản không
tốt đã bị hư hỏng hết không còn
dùng được nữa, chỉ còn bản lược tóm
mà
tôi nhờ ông ghi dùm». Trong
thư đầu tiên ông gửi cho tôi,
ông gọi tôi
là thầy và viết: «Tôi
ái mộ thầy Trung từ khi đọc cuốn sách về Phạm
Quỳnh, tôi cảm động và sung sướng nếu thầy đọc
cuốn sách đầu tay của
tôi và hân hạnh thấy thầy
dành cho tôi một khoảng không gian trong
tác
phẩm Trở Về Nguồn
của thầy. Thư sau, tôi đề nghị ông gọi
tôi là anh, do đó ông
thân thiện
hơn và không ngại cho tôi biết việc
Công an theo dõi và nhận định về
tôi thế nào qua các liên lạc
với ông và bạn bè ông, hoặc
ngay cả phiền
trách tôi: Ðúng là
nhà trí thức nghiên cứu về CS, nhưng
không phải đảng
viên. Anh không hiểu sẽ gây rắc rối cho
tác giả thế nào khi anh nói về
nguồn gốc xuất xứ tài liệu và những
liên hệ với tôi, các bạn tôi.
Người
ta coi tôi là người cung cấp tư liệu để anh chống
Cộng đấy, anh thì
người ta không đụng được, còn tác giả
đưa cho anh thứ nọ thứ kia thì
người ta không tha đâu".
Bây giờ ông đã qua đời, nên
tôi
có thể nói lên phần nào
tâm
tình của ông. [2]
Đọc suốt tập sách, nhiều lần tôi tự hỏi:
ông có thành thực nói những
điều ông đã nói ra hay không?
Tôi thấy tâm tình của ông đối
với đảng
Cộng sản bị sứt mẻ nhiều, nhưng bề ngoài vẫn phải tỏ ra
trung kiên tin
tưởng. Nhiều điều ông phê phán đảng,
thì lại đặt vào miệng ông Dương
Văn Hiếu, không trực tiếp nói thẳng ra, Những sự
kiện về tình cảnh nhà
tù, nhiều chỗ cũng cường điệu, bi thảm hoá sự
tàn bạo của Đoàn công tác
đặc biệt miền Trung. Ðiều này đã
làm cho ông Dương Văn Hiếu tức giận,
khi tôi gửi bản Bội phản hay Chân chính
cho ông ta đọc. Ông tức giận và
nói: nếu tàn bạo như thế làm sao cảm
hoá họ và đưa đến cộng tác! Nhưng về
tâm tình đối với chế độ Miền Nam
mà ông nhằm lật đổ, tôi nghĩ
ông thành thật khi bày tỏ nỗi niềm đau
xót, tủi nhục trong sách lược chiến tranh khuynh
đảo.
Ðọc tài liệu và tiếp xúc với
các bạn
ông, tôi phải cám ơn ông Cẩn,
vì
nhờ Đoàn công tác của ông
mà tôi
đi xe lửa Huế Sài Gòn ban đêm thật
yên
ổn, và do đó buộc tôi phải duyệt lại
những
thiên kiến, thái độ khinh bỉ
coi thường ông Cẩn và các cơ quan
tình
báo của VNCH thời ông Diệm. Và
sau cùng, tôi cũng phải nhìn nhận như
các
ông Cộng Sản rằng: ông Ngô
đình Cẩn là người giỏi thật, mưu trí
thật.
Ông Ngô Đình Nhu còn
đáng phục hơn,
ông là cố vấn Tổng Thống, bay ra
Huế gặp riêng ông Mười Hương, hai người
bàn bạc
gì nay chỉ còn ông Muời
Hương biết. Nếu ông Mười Hương bị ông Nhu bắt
có thể
ông không giữ, mà
thả ngay, như một ông nguyên bí thư
Thành Uỷ
Sàigòn nói với tôi:
Chúng
tôi phục ông Nhu về tầm nhìn xa
trông rộng,
ông bắt được cán bộ lãnh
đạo của chúng tôi, ông thả ngay.
Vì ông
nghĩ nếu một ngày nào đó cần
phải thương nghị với chúng tôi thì
có người
cân xứng mà nói chuyện. Vì
Cộng Sản ca tụng ông Nhu và đọc tài
liệu của họ như
Thư Vào Nam
của Lê Duẩn gửi anh Mười Nguyễn văn Linh, động viên
đừng bi quan trước
tình cảnh đen tối của Cách mạng vì
Quốc sách Ấp chiến lược, tôi cũng
thấy cần duyệt lại những thiên kiến coi thường các
lý thuyết mà ông Nhu
đã trình bày như chủ nghĩa
nhân vị, tổ chức đảng Cần lao và sau
cùng lý
thuyết về ấp chiến lược mà vào lúc
đó, tôi buộc phải đi dự cùng với
các
giáo chức đại học. Lúc đó,
tôi không thèm đọc tài liệu,
hoặc nghe
thuyết trình, bây giờ đọc lại, tôi hiểu
tại sao bề ngoài ông phải đưa
ra những lý thuyết tổ chức đảng như vậy và tư
tưởng chính trị thực sự
của ông như thế nào.
Đọc Bội phản hay chân chính, tôi mới
hiểu
tại sao ông Cẩn
im lặng. Những tội danh mà toà án
«cách mạng» đưa ra để buộc tội
ông
Cẩn, đúng ra phải là dành cho một
người thuộc thẩm
quyền của công an,
một cơ quan hợp pháp, công khai, trong khi tổ chức
ĐCT
ĐBMT là một tổ
chức hoạt động trong bóng tối vượt ra khỏi mọi luật lệ của
chính quyền
nhằm mục đích chính là diệt những
người cộng sản
đã bị đạo luật 10/59
đặt ra ngoài vòng pháp luật,
vì chủ trương
dùng khủng bố bạo lực cách
mạng để tiêu diệt chế độ VNCH trong chiến tranh khuynh đảo,
nên không
thể dùng pháp luật toà án
để chống lại
«khủng bố cách mạng» vì
làm như
thế sẽ thua cộng sản và mất chế độ; Để đối phó
và
«tiêu diệt khủng bố
cách mạng» ông Cẩn chủ truơng
dùng khủng bố
chống cách mạng.
Nói về Sài Gòn, ông viết:
"Sài
Gòn 1958 quá đẹp, quá yên
tĩnh. Sự sôi
động của phong trào quần chúng trước
đây
hoàn toàn bị đầy lui vào dĩ
vãng nhường chỗ cho một SÀI GÒN thanh
bình
lý tưởng, cho những người đã
bắt cóc anh. Sài Gòn sau 75,
càng về sau
cái thành phố cứ héo hon dần.
Khu thương mại trung tâm từ chợ Bến Thành,
Lê Lợi,
Nguyễn Huệ, đường
Đồng Khời xưa kia là « Catinat » rồi đổi
thành Tự Do, không kéo dài
từ
nhà thờ Ðức Bà tới nhà
hàng Maxime
và khách sạn Majestic, cả một liên
khúc phố xá đầy cửa hàng
choáng lộn,
tràn ngập hàng hoá xa xỉ lẫn
thường dùng, nay không còn nữa! Thay
vào
đó, là các chung cư nhà tập
thể, nhà cửa cái mở cái
đóng đường
xá nhếch nhác, hàng hoá
biến mất
thay vào đó là các
hàng ăn,
hàng phở, quán cóc là phổ
biến, bia hơi
nghêu luộc và hột vịt lộn. Ban đêm thiếu
ánh
sáng các « chị em ta » cứ
việc thoải mái hành nghề ở các Ki-ốt
đường Nguyển
Huệ. gần bến Bạch
Đằng".
Đó là
một đoạn mở đầu trong
bài soạn giả viết 3 năm sau cuốn Bội phản hay chân
chính,
gọi là «nhà văn bất đắc dĩ»
(1995), kể lại
diễn tiến việc qui tụ các
đồng chí cựu tù nhân của Ðội
Công
Tác Ðặc Biệt do ông Cẩn chỉ đạo, để
viết ra cuốn hồi ký tập thể về thời gian họ bị mật vụ
ông
Cẩn cầm tù.
Điều đáng lưu ý hơn cả trong bài
này
là soạn giả nói đến thái độ những
người cộng sản tuổi đảng cao, trung kiên nhất, sợ đảng như
thế
nào. Tôi
trích dẫn giới thiệu một số trang trong bài 25
trang
này. Sau cùng ông
trao cho tôi một bản Bội phản hay chân
chính
khác, có ghi dành cho con
cháu nhân
dịp lễ sinh nhật 1992 "hãy
coi kỹ để biết cha ông từng dành quyền sống như
thế
nào và thế nào là
cái thời quan điểm với lập truờng hãy lo học
hành
khoa học kỹ thuật,
nghệ thuật thể thao. Đừng làm chính trị, chớ
vào
đảng phái, chớ làm 2
cái nghề tình báo công an".
Tờ Ngày Nay ở
Houston, số 374,
ngày 15/09/1997 đăng chương đầu tập Bội phản hay
Chân
chính
với cái tựa là « Khi cộng sản Việt Nam
vắt chanh bỏ
vỏ các đảng viên
trung kiên của họ». Tôi có
liên lạc với
tờ báo, và cho biết cách giải
thích như vậy là không đúng
đâu.
Tài liệu này được soạn thảo nhằm mục
đích yêu cầu lãnh đạo đảng phục hồi
danh dự cho
các đồng chí của họ bị
chết oan và họ đã đạt được mục đích
đó.
Những người chống cộng đọc tài
liệu này, nên nghĩ đến phục hồi danh dự cho
ông Cẩn
(đã chết) im lặng
ngâm đắng nuốt cay cho đến chết và ông
Dương Văn
Hiếu (còn sống ở San
Jose). Cuối năm 2002, nhà xuất bản Công an
nhân
dân cho ra mắt cuốn Phạm Xuân Ẩn, tên
người như cuộc
đời, và báo Thanh Niên
đăng loạt bài ký sự nhân vật tướng
tình
báo chiến lược từ số 280 ngày
7/10/2002 đến số 332 ngày 28/11/2002 có nhiều
thông
tin về tình hình
cách mạng Miền Nam từ 1954 –1959. Ông
Mai Chí
Thọ coi thời kỳ đó là đen
tối của Cách Mạng miền Nam. Lúc đầu
riêng miền
đông Nam bộ, cán bộ sàng
lọc lại vẫn còn 20 ngàn người, nhưng đến 1959 chỉ
còn hơn 800, nghĩa là
chưa tới 5%.
Trong tập Bội Phản Hay Chân Chính" có
một
chương «So Sánh»
cho thấy nhà tù của mật vụ ông Cẩn
là một tổ
chức khá tinh vi, không có
song sắt, mật vụ VNCH cùng với kháng chiến Việt
cộng ăn
chung ngủ
chung, chơi chung, công tác chung nhằm chuyển
hướng những
người kháng
chiến cũ trở về với chính nghĩa quốc gia; chương
«Cán Bộ Chuyển Hướng»
tường thuật lại diễn tiến quá trình bỏ cộng sản
theo quốc
gia của một
thành uỷ viên Thừa Thiên; đoạn cảm động
hơn cả,
là chỗ đồng chí lãnh
đạo này xuống núi, tìm nhà
một bà
«má nuôi» để có
thức ăn và buộc
phải
ra đầu thú. Ông khóc, anh
công an quốc gia
tưởng lầm ông thiếu thái độ
dũng cảm của người chiến sĩ cộng sản, trong khi, thực ra ông
chỉ
thấy
đau xót nhục nhã vì thua cuộc. Sau 3
năm soạn giả
viết bài "Nhà Văn Bất
Đắc Dĩ" kể lại tâm trạng của những người cựu tù
nhân
tụ họp để viết hồi
ký tập thể, cảm thấy sợ đi họp hoặc ông chủ
nhà sợ
cho anh em tiếp tục
mượn nhà: “Tôi nêu ra ở
đây để muốn
nói lên cái oai của ta là
như thế
đấy. Tất cả anh em họp đều có quá
trình chiến đấu
cao, thành tích lớn,
hầu hết có huy hiệu 45 tuổi đảng, tất cả đều trải qua 2 cuộc
kháng
chiến, đều là cựu tù chính trị. Được
đảng tin cậy
nhường đó mà sợ đảng
thế đó.”
III.
“Luật sư nghề hay nghiệp?”
Vài cảm nghĩ và kỷ niệm về một thời kỳ
hành nghề.
Vụ án Ngô Đình Cẩn, hay từ cố vấn chỉ
đạo
thành tử tội.
Trước hết luật sư Quan nói về bối cảnh của vụ án.
Ông có ác cảm với ông
Cẩn bị tai tiếng lãnh chúa miền Trung,
nên khi ông Cẩn bị giam ở Chí
Hoà, ông hi vọng ông Cẩn sẽ được đem ra
xét xử một cách đứng đắn, không
bị hạ sát một cách ám muội như
ông Diệm, Ông Nhu.
Nhìn vào tình hình
lúc đó, thời Nguyễn Khánh cầm quyền,
ông nhận thấy
những thủ đoạn chia để trị, bắt cá hai tay giữa 2 khối
Công giáo và
Phật giáo, gây hỗn loạn suốt 3 năm trời. Việc hạ
sát thiếu tá Nhung,
người đã nhận lệnh giết hai ông Diệm, Nhu, để mua
chuộc cảm tình của
giới Thiên chúa giáo và
những người thương tiếc chế độ ông Diệm, nhưng
lại gây căm phẩn trong giới Phật giáo, tố
cáo chính quyền có nhiều Cần
lao ác ôn, nên Nguyễn Khánh
tuyên bố đưa Ngô Đình Cẩn ra
xét xử ngay,
để mua chuộc sự ủng hộ của giới Phật giáo.
Luật sư Quan nhận lời bà Trần Trung Dung đề nghị
ông biện hộ cho ông
Cẩn, mặc dầu cả ông và bà Dung đều biết
ông Cẩn sẽ bị kết án tử hình,
nhưng chỉ cần tại toà án, lụât sư
nói lên giùm ông cậu sự tức
giận đối
với những kẻ trước đây luồn cúi nịnh bợ, nay phản
phúc, mạt sát ông,
nay ra làm chứng hay ngồi ghế hội thẩm để kết án
ông Cẩn.
Tiếp xúc với
thân chủ và hồ sơ của bị cáo,
ông thấy ông Cẩn bị truy tố về 2 tội:
- 1) làm kinh tài bất hợp pháp, lũng
đoạn kinh tế quốc gia, đầu cơ nhu
yếu phẩm, buôn bán với Việt cộng. Điều
này đáng lo ngại nếu có giấy tờ
chứng minh; nhưng điều làm cho ông luật sư ngạc
nhiên, là chỉ có những
tố cáo mà không có hồ sơ
gì cả.
- 2 ) ông Cẩn ra lệnh cho công an bắt giam
trái
phép, cưỡng đoạt tài
sản của mấy thương gia, hạ sát họ. Nhưng về tội
này
càng không có tài
liệu nào cả, chỉ có nhân chứng tố
cáo
mà thôi. Luật sư được biết ông
Cẩn sẽ bị đem ra xét xử ở Huế, nơi đây
dân
chúng sẽ làm áp lực mạnh
đòi
xử tử. Nhưng ngày định xét xử, quan
toà và
luật sư đã đến chờ đem bị
cáo ra, nhưng rút cục, bị cáo vẫn ở
Sài
Gòn, nên toà phải đình chỉ
“vì
vậy ngày đó tại phiên xử của
toà án
cách mạng Huế, mới diễn ra màn kịch
có một không hai trong lịch sử tư pháp
VNCH”.
Tại phiên toà xử ở Sài Gòn
có 4 phụ thẩm quân sự: Đại tá Nguyễn
Văn
Chuân, đại tá Đặng Văn Quang, Đại tá
Trương Văn Chương, Trung tá Dương
Hiếu Nghĩa, những vị mà luật sư hiểu thành
tích của họ không có gì để
đề cao, còn ông Cẩn suốt các
phiên xử, nhìn thẳng các phụ thẩm, mắt
ông
long lên sòng sọc sau cặp kính trắng.
Sau phiên toà ông Cẩn vừa cảm
xúc
vừa khinh bỉ nói với luật sư: “Luật sư biết
không, lúc trước những tên
đó tới lui tại nhà tôi, khúm
núm xưng con, cầu cạnh xin xỏ, bây giờ bọn
nó tiếp tay ngồi phiên toà
này xử tôi, mặc dù họ có thể
từ chối. Đúng
là một lũ phản phúc”. Đến lượt uỷ
viên chính phủ, thiếu tá Đức
lên
tiếng buộc tội can phạm, không dựa vào
tài liệu, mà chỉ dựa vào
nhân
chứng, lý luận hùng hồn ba tiếng đồng hồ, rồi kết
luận xin toà tuyên
phán tử hình.
Buổi chiều toà tái nhóm và
luật sư Quan
đứng lên biện hộ cho ông Cẩn.
Bên ngoài toà án, tuy chưa
xử, đã
có nhiều người nhất quyết đòi cho
được bản án tử hình; còn trong
toà,
công tố viện buộc tội nặng nề; bên
cạnh bị cáo chỉ có tôi, mình
tôi,
nhưng tôi quyết định nói tất cả những
gì mà tôi và ông
Cẩn muốn nói
đối với cái màn chính trị chi phối
công
lý, đối với những người đã từng bợ đỡ nhờ
vã
ông, nay phản bội ông. Hậu
quả có ra sao thì ra. Luật sư Quan hỏi:
Ngô
Đình Cẩn ông là ai, một
lãnh chúa Miền Trung quyền uy tuyệt đối hay chỉ
là
một ông từ có công
giữ chùa cúng Phật, có công
thay thế
các người anh, hiếu thảo phụng
dưỡng mẹ già, nhưng không có ăn học
cao, nên
chỉ được phong cho cái hư
vị mà không có quyền hành cụ
thể gì
cả. Ðiều rõ ràng là trong anh
em
ông Diệm, ông Cẩn là người ít
học hơn hết,
tuy mang chức cố vấn như ông
Nhu, nhưng làm sao so với ông Nhu được, một người
tốt
nghiệp đại học ở
Pháp, lão luyện trong hoạt động chính
trị,
còn ông Cẩn học chưa hết
trung học, chỉ ru rú trong căn nhà của gia
đình
tại Phú Cam, phụng
dưỡng mẹ già để các anh rảnh tay lo việc nước.
Ông uỷ viên chính phủ khẳng định : bị
can ra lệnh cho công an tống tiền
thủ tiêu các nạn nhân, nhưng trong hồ
sơ, không có công văn nào
trao
quyền cho ông Cẩn chỉ huy bộ máy tư
pháp, an ninh để có thể ra lệnh cho
cấp dưới thi hành. Không có văn bản cụ
thể, khách quan mà chỉ dựa vào
nhân chứng. Nhân chứng là ai?
Đó là những người tráo trở lật lọng,
họ
đã khúm núm xưng con với người chế độ
cũ, nịnh hót xin xỏ ân huệ, làm
sao tin vào lời nói của họ được?. Trong căn
phòng xử này, mỗi lần chạm
phải cái nhìn hờn trách của
ông Cẩn, họ đã hổ thẹn ngó đi chỗ
khác.
Điều đáng buồn cho xứ sở này là
còn có nhiều người tai to mặt lớn trong
giới quân sự, dân sự, có hành
động bỏ suy phù thịnh như họ. Rút cục,
chỉ có lời khai suông của những người được gọi
là nhân chứng. Họ là ai,
động cơ nào thúc đẩy họ ra đây kể tội,
buộc tội ông Cẩn. Vậy căn cứ vào
hồ sơ không có bằng cớ rõ rệt,
kính xin toà tuyên xử tha bổng cho bị
can.
Trước khi vô phòng luận án,
Toà đề nghị cho ông Cẩn nói lời
chót. Ông
điềm nhiên chậm rãi nói mình
vô tội, không có quyền hành
để ra lệnh cho
công an. Nhưng ông không van xin cầu khẩn
gì hết. Ông biết luật chơi
tàn nhẫn của chính trị và
ông điềm tĩnh chấp nhận, mặc dầu đối tượng
của cuộc chơi chính là sinh mạng của
mình. Toà trở ra tuyên xử tử
hình.
Luật sư Quan làm đơn xin ân xá đưa
ông Cẩn ký vào.
Một hôm sau, luật sư được toà án cho
biết đơn xin
ân xá bị bác và cuộc
hành quyết sẽ diễn ra buổi chiều. Luật sư vào
thăm
ông Cẩn, ông tiết lộ
một số bí mật như là những lời trăn trối.
Ông thuật
lại ngày ông Ngô
Đình Khôi và người con trai bị Việt
Minh đến
nhà bắt đem đi sát hại,
ông ở phía sau nhà, VM kiếm
không ra
nên không bị bắt. Về đường lối
chính trị, ông nhắc lại những pha sắt
máu ông
đối phó với Việt Cộng,
ông khẳng định phải thẳng tay với họ, cũng như họ
đã
sát hại phe quốc
gia không chút nương tay. Lúc
nói như vậy,
mắt ông sáng long lanh, mặt
đỏ rần, mạnh dạn gằn từng tiếng, nói tới cao trào
cách mạng là phải đổ
máu. Ông biết tôi là người
theo đạo Phật,
nên ông thanh minh: người ta
đã vu oan cho ông là đàn
áp Phật
giáo. Trái lại chính ông
đã cố gắng
ngăn cản những kỳ thị tôn giáo tại Miền Trung,
nhưng hai
ông Diệm, Nhu
không chịu nghe lời ông, mà lại
làm theo lời
xúi bậy của ông Thục nên
thảm kịch mới xảy ra.
Ông Cẩn im lặng nghe đọc bản án bác đơn
xin
ân xá. Quá cảm động tôi chỉ
biết nói câu an ủi tầm thường:
“Thôi ông
cố vấn đừng quá đau buồn. Trên
cõi đời này sớm hay muộn rốt lại ai cũng phải ra
đi”. Ông nhìn tôi điềm
tĩnh nói: Luật sư đừng có buồn cho tôi.
Tôi
đi theo mấy ông anh của
tôi. Tôi trở về với Chúa. Tôi
không sợ
chết đâu, nhưng tôi lo cho luật
sư; Luật sư đụng chạm tới họ không biết luật sư ở lại,
có
bị họ làm khó
dễ hay không”. Tôi ứa nước mắt,
nói
không sao đâu ông cố vấn đừng lo
cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được
vào
nước Chúa. Khi ông Cẩn bước
vào chỗ hành quyết, tay bị trói chặt
vào
cột. Có một người cai ngục trẻ
tuổi, mặt mày hiền lành bước tới nói
với ông
Cẩn, giọng thành khẩn:
Thưa ông tên thánh của con là
Phêrô. Ông lên tới nước
Chúa, xin
ông cầu
nguyện cho con. Ông Cẩn lặng thinh nhè nhẹ gật
đầu. Người
lính đem khăn
vải đen bịt mắt ông. Tới lúc đó
ông
không còn giữ im lặng, lắc đầu nói
lớn, tôi không chịu bịt mắt đâu,
tôi
không sợ chết, nhưng người ta vẫn
buộc. Bị bịt mắt ông Cẩn vẫn lên tiếng phản đối
vùng
vẫy cái đầu. Một
tiếng hô, một loạt súng nổ. Đạn bắn mạnh
vào
làm cho thân hình người tử
tội bật ngược lên, dãy nãy rồi rũ xuống
như một
người máy bị đứt dây
thiều. Viên sĩ quan chỉ huy đội hành quyết bước
tới cọc,
lạnh lùng bắn
phát đạn ân huệ. Đầu ông Cẩn
dãy lên
rồi gục xuống. Hoàng hôn chụp
xuống ảm đạm tang tóc.
Luật sư kể tiếp: tối hôm xử bắn ông đã
uống thuốc để cố gắng tìm giấc
ngủ, vẫn trằn trọc thao thức suốt đêm vì bao
hình ảnh vụ án cứ dồn dập
quay cuồng trong tâm trí và
ông nhận ra tình cảm của ông đối với bị
cáo
đã thay đổi: Lúc đấu ác cảm phẩn nộ,
đến khâm phục và thương tâm. Nhiều
năm sau, luật sư Quan gặp lại bà Trần Trung Dung định cư ở
Orlando
Florida cùng chỗ với ông, hai người trở
thành bạn thân. Bà Dung nhắc
lại chuyện xưa, tường thuật rõ ràng hơn
lúc còn ở quê nhà.
Bà kể tên
những người trong cuộc, thuật lại những sách nhiễu tiền bạc
bỉ ổi,
những thủ đoạn lường gạt gian manh đằng sau vụ án
Ngô Đình Cẩn.
Kết luận, ông suy nghĩ về cái nghề của
mình, nhiều khi đã tưởng là
cái
nghiệp, nhưng cơ may giúp ông có một
nhân sinh quan sâu rộng hơn để ông
nhận thức ai cũng là một điểm linh quang của Thựơng đế, chỉ
khác nhau ở
chỗ linh quang đó bị lu mờ ít hay nhiều do dục
vọng cá nhân. Nhân sinh
quan đó làm giảm bớt tham sân si trong
tôi, đưa tôi tới sự an lạc trong
tâm hồn. Sự hiểu biết về thiền, cũng cho ông luật
sư thấy tất cả mọi
người, đúng theo giáo lý «
trùng trùng duyên khởi » của
đức Phật, đều
có mối tương quan mật thiết với nhau, đều là bạn
đồng hành trong đại
trùng dương của đời sống muôn loài vạn
vật và trong cả hai nhân sinh
quan kể trên, ông nhận thấy luật sư là
một cái nghề tuyệt vời không còn
phải là cái nghiệp cay đắng nữa.
Trong tập hồi ký này, luật sư Quan còn
cãi
cho bác sĩ Nguyễn Văn Mẩn
thị trưởng Đà Nẵng, dính liú
vào các
vụ biến động Miền Trung, theo yêu
cầu của thượng toạ Trí Quang. Bài tường thuật
này
cho thấy rõ toà án
thời đó chỉ là một công cụ
chính trị của mấy
tướng lãnh hoạt đầu, và
khuôn mặt phong cách của thượng toạ Trí
Quang. Luật
sư Quan không có
thiện cảm với đường lối bạo động hỗn loạn dưới chiêu
bài
tôn giáo, nên
lấy cớ luật sư đoàn không cho phép tới
nhà
thân chủ lãnh công việc, vì
luật sư nghĩ rằng Trí Quang là một người cao
ngạo, quen
thấy nhiều nhân
vật chạy theo phò tá chắc không chịu
đến văn
phòng. Luật sư cũng nhắn
với thượng toạ sẽ đặt vấn đề thù lao vì
không
có hậu ý lập công để mong
cơ hội tiến thân trên đường chính trị.
Không
ngờ Trí Quang đến văn
phòng luật sư và nói rõ sỡ
dĩ nhờ luật sư
là vì bác sĩ Mẩn là người
Công Giáo và biết luật sư dù
là người
Phật Giáo vẫn tận tâm mạnh dạn
cãi cho ông Cẩn là người công
giáo.
Khi vào khám Chí Hoà gặp
bác sĩ
Mẩn, luật sư đề nghị ông viết một tường trình đầy
đủ để
luật sư sử
dụng. Bác sĩ Mẩn dè dặt, trả lời để hỏi
ý kiến
thầy đã. Mấy hôm sau
luật sư nhận được lá thư của Trí Quang vắn tắt
chỉ
có mấy chữ: “Anh Mẩn làm memoire đi.
Ông già.”
Nét chữ cứng rắn như cái mệnh lệnh.
Ngoài ra
Trí Quang nhờ luật sư đưa
một thư của ông cho ông chánh thẩm.
Trước
toà, luật sư đọc văn thư đó.
Trong thư, Trí Quang tuyên bố sẵn sàng
ra
toà khai rõ về những việc xảy
ra tại Miền Trung và đảm nhận tất cả trách nhiệm
vì chính ông lãnh đạo
cuộc tranh đấu đó, dĩ nhiên toà
không mời
Trí Quang ra làm chứng, để
ông không dùng phiên
toà làm
diễn đàn chính trị. Còn truy tố
ông, nếu
họ dám thì đã làm từ
lâu.
Trong phiên toà luật sư Quan biện luận, những bị
can tranh
đấu đòi
thành lập quốc hội lập hiến; Quốc hội này thảo
luận hiến
pháp làm nền
tảng pháp lý cho các cơ quan
lãnh đạo quốc
gia, không ai có thể bảo đòi
hỏi ấy không chính đáng, chỉ
có những kẻ lẫn
tránh không đáp ứng đòi
hỏi đó mới là bất chánh. Dưới chế độ
Ngô
Đình Diệm, ít ra còn có
hình
thức dân chủ, sau chế độ đó, người ta thấy những
gì: Từ ba năm nay,
ngoài cái quái thai gọi là
Hiến chương Vũng
Tàu, bị bãi bỏ, không có
gì
hết, chỉ có những quân nhân cao cấp
lên nắm
quyền đưa ra nhiều danh
xưng cách mạng, chỉnh lý đảo chánh,
biểu dương lực
lượng … cho nên
những người tranh đấu không còn con đường
nào
khác là bạo động. Đó
không phải là cái tội. Nếu
đó là tội
tại sao thượng toạ Trí Quang người
lãnh đạo cuộc tranh đấu đó xác nhận
trước
toà mình chịu trách nhiệm lại
không bị truy tố. Người lãnh đạo chủ mưu
không bị
truy tố, tại sao
những người chỉ đi theo sự lãnh đạo đó lại bị
truy tố,
nên xin toà tha
bổng các bị can. Bác sĩ Mẩn đựơc trả tự do,
Thượng toạ
Trí Quang gửi
thiệp xin hết lòng cảm tạ như tấm thiệp của ông
Cẩn
và mời khi nào rảnh
ghé thăm cảnh chùa Ấn Quang. Trong buổi gặp gỡ
luật sư
Quan thuật lại:
Trí Quang đã than phiền người ta đồn
ông thân
cộng và chống Mỹ, ông nói
chủ đích của ông là bảo tồn văn
hoá, nề nếp
cổ truyền của xứ sở để
không bị cộng sản vô thần huỷ diệt và
văn minh vật
chất của Mỹ làm cho
bại hoại.
Đó là lần thứ 2 và lần cuối
cùng luật su gặp TT Trí Quang:
“Tôi không
biết con người khó hiểu đó là Việt
Cộng nằm vùng hay thân cộng”.
IV. Số bạc nhiều
triệu đô la?
Trong phần cuối tập hồi ký của luật sư Quan liên
quan đến ông Cẩn, có
đoạn: «Người viết được linh mục tuyên uý
của ông Cẩn cho biết, trước
mặt mọi người ngài đã hỏi ông Cẩn 2
lần: Cậu có tha thứ cho những người
đã làm khổ cậu và gia đình
cậu không? Cả 2 lần ông Cẩn đều nói lớn
và
rõ ràng: Con tha thứ.
Nhưng có một đoạn khác không thuộc niềm
tin
tôn giáo mà liên quan tới
tiền bạc, như sau: «ông Cẩn và
tôi trò
chuyện đã hơn 2 tiếng đồng hồ,
mấy người nhân viên công an đứng mỏi
chân
và không còn chú
ý nữa, họ
kéo nhau ra ngoài xa ngồi hút thuốc,
nói
chuyện kháo. Thừa dịp đó, ông
Cẩn tiết lộ với tôi một bí mật ông giữ
kín từ
truớc. ông cho biết rằng
bà Trần Trung Dung có thuật lại với ông
là
trước khi ông bị đem ra xét
xử, “người ta” ông vẫn còn dấu
không
tiết lộ đích danh, hứa nếu ông
bằng lòng chuyển cho “người ta” mấy
triệu đô
la trong trương mục của
ông ta tại Thụy Sĩ, ông sẽ được phi cơ
lén đưa qua
Singapore sống tự
do. Nhưng ông ta biết người đó là kẻ
lật lọng, nếu
ông lầm tin, chuyển
tiền cho họ thì sẽ bị cảnh tiền mất tật còn,
nên
ông kiên quyết từ
chối. Về sau nhân dịp một linh mục tới khám
Chí
Hoà cùng với ông làm
lễ, ông ký giấy uỷ quyền cho dòng tu
Linh mục ấy
lãnh số tiền kể trên.
Tờ uỷ quyền được dấu trong một cuốn kinh sách của vị linh
mục.
Ông tâm
sự, tôi thà dâng cho Chúa chứ
không
chịu làm giàu thêm cho họ”,
ông
không nói và tôi cũng
không hỏi danh
tánh và dòng tu của vi linh mục
ấy. Về sau tôi cũng không tìm hiểu xem
việc chuyển
tiền đó có thật hay
không. Điều đó không liên quan
gì đến
nhiệm vụ của tôi”.
Trong hồi ký của tướng Trần Văn Đôn, Việt Nam
nhân chứng
(1989), có chỗ ghi: "Năm 1960 ông Cẩn khoe với
tôi là đã có gần 6 triệu
đô la gởi ở ngân hàng Thụy Sĩ (trang
159)…. Hai tháng sau ngày chỉnh
lý
ông Khánh phái ông
Lâm Văn Phát liên lạc qua bà
Trần Trung Dung vào
khám nói với ông Cẩn chuyển số tiền 6
triệu Mỹ kim ông Cẩn có trong
ngân hàng Thụy Sĩ qua cho ông
Khánh, đổi lại ông Khánh sẽ cho một
chiếc
phi cơ Dakota đưa ông Cẩn đi Singapore sống tự do.
Bà Trần Trung Dung
yêu cầu đừng thâu băng khi bà ấy
vào khám hỏi ý ông Cẩn. Sau
khi nghe
bà Dung trình bày, ông Cẩn
không chịu giao tiền đó cho ông
Khánh. Ông
hỏi bà Dung có cần lấy thì
ông giao. Lúc đó bà Dung sợ
liên lụy nên
không dám nhận. Mấy hôm sau,
nhân dịp một vị linh mục ra vô làm lễ
cho
Ông Cẩn, ông Cẩn ký giấy uỷ quyền cho
dòng chúa cứu thế số tiền đó.
Trong cuốn kinh sách một giấy uỷ quyền để sẵn cho
ông Cẩn ký tên tặng
mấy triệu Mỹ kim. Sau đó ông Cẩn bị
tuyên án tử hình (trang 248-249).
Như vậy sự kiện ông Cẩn có tiền hàng
triệu gởi ngân hàng Thụy Sĩ là
điều có thể tin được, vì chính
ông Cẩn đã nói với luật sư Quan
“mấy
triệu” và trước đó với tướng
Đôn “6 triệu”, ông Cẩn
không trao cho ông
Khánh, mà trao cho tuyên úy
dòng Cứu thế. Nhưng việc trao tiền về
phương diện nghiệp vụ của ngân hàng,
lãnh một số tiền lớn mà chỉ căn cứ
vào một mảnh giấy viết tay nghệch ngoạc rồi ký
tên thật rất khó tin. Dù
sao linh mục Thi dòng chúa cứu thế là
người trực tiếp liên quan đến vụ
này, rất mong linh mục lên tiếng công
khai.
V. Tổng kết nội vụ
Phật Gíáo và Đại Học của Lê
Dư
Tác giả là trưởng ty cảnh sát Quốc Gia
Thừa Thiên, một người được nhắc
đến nhiều trong tập hồi ký của nhóm cựu
tù của ĐCTĐBMT. Sau 75, đi học
tập ngoài bắc nhiều năm được thả về và hiện nay ở
Mỹ theo diện HO. Bản
tôi có là bản đánh
máy, nhiều trang đọc không rõ. Tuy
nhiên mỗi trang
đều có đóng dấu đỏ chót của cơ quan,
do Tạ Chí Đại Trường đưa cho tôi ở
Sài Gòn sau 75. Bản tổng kết về gỉai
trình 6 can phạm trong nội vụ Phật
Giáo và đại học, can tội phá rối an
ninh Quốc Gia. Sáu can nhân: Lê
Khắc Quyến, Võ Như Nguyện, Lê Tuyên,
Hoàng Văn Giàu, Võ Văn Thơ (thuộc
đại học) và Thích Trí Thủ,
kèm theo hồ sơ cá nhân của họ được
kính
chuyển, trong phần sơ lược diễn tiến vụ Phật Giáo từ đầu đến
cuối là 36
trang, có mấy điểm nổi bật.
1. Vai trò sách động của Trí Quang với
những câu nói: “Lấy tư cách
hội
trưởng Phật Giáo Trung phần, tôi ra lệnh
các đạo hữu từ nay cứ treo cờ
Phật Giáo tại các chùa khuôn
cũng như tại tư gia, đó là lệnh của
tôi,
tôi xin gánh lấy trách nhiệm
và hậu quả trước chính quyền”...
“Đã đến
lúc phật tử chúng ta phải tranh đấu,
dù cho cần đến sự hi sinh nào
chúng ta cũng không từ chối; Kể từ giờ
phút này Phật tử chỉ theo lệnh
của tôi mà thôi”.
2. Sự can thiệp công khai của các viên
chức nhà báo Mỹ xúi giục lật đổ
chế độ, làm nhiệm vụ phổ biến tin vào
Sài Gòn và nước ngoài.
3. Sự tham gia của giới đại học gồm một số giáo sư
và sinh viên phật
tử, sự tham gia này càng sôi nổi sau
khi linh mục Cao Văn Luận bị cách
chức viện trưởng và sự cách chức này
đã trở thành một cớ rất thuận lợi
đẩy mạnh phong trào chống chính phủ vì
một trong những mục tiêu tranh
đấu là đòi phục chức Viện trưởng cũ,
không thừa nhận Viện trưởng mới,
các giáo sư từ chức viết kháng thư
phản đối. Theo nhân chứng số 42 (xem
báo cáo của Phái Đoàn LHQ)
có 3 điểm được nêu lên trong
kháng thư:
Chính phủ lấy tài sản của chùa
không giải quyết tích cực vụ Phật Giáo
và cách chức Viện trưởng. Lý do thứ 3
được đặc biệt nhấn mạnh, nhưng
tại chùa Từ Đàm người ta bỏ đều phản đối
lý do thứ 3 .
4. Bản tuờng trình về toan tính tổ chức
các vụ tự thiêu tương tự lời
phát biểu của nhân chứng ở Sài
Gòn, xem báo cáo của PĐLHQ cho thấy
tất
cả đếu chỉ nhằm mục đích tạo dư luận biện minh cho việc lật
đổ chính
phủ.
5. Không hề thấy một toan tính nào của
cộng sản xúi giục tăng ni chống
chính phủ trong bản tường trình của một người
chuyên môn lùng bắt cộng
sản thuộc ĐCTĐBMT. [3]
Khi quân đội của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ ra
Ðà
Nẵng và Huế đánh dẹp thì
các cán bộ nằm vùng đã lẩn
tránh
hết, chỉ còn lại những Phật tử thường
không có ai lãnh đạo vào
chùa ẩn
náu rồi sau đó ra hàng mà
thôi.
Điều đáng lưu ý là Thượng toạ
Trí Quang ra lệnh cứ treo cờ và ai nấy cứ
theo lệnh của mình, có lẽ Thượng toạ
Trí Quang ăn nói như vậy là
vì
được ông Cẩn hoàn toàn ủng hộ. Sự kiện
kháng thư của sinh viên điểm 3
đòi phục chức cho Viện trưởng đã bị
chùa Từ Đàm xoá bỏ, cho thấy mục
tiêu tranh đấu chỉ mượn vụ cách chức để chống
chính phủ. Sau đảo chính
tôi ra Huế dự buổi đại học Huế long trọng đón linh
mục Luận về Huế; Tôi
lên chùa Từ Đàm thăm thầy
Trí Quang, sau đó, trong khi lái xe
đưa tôi
về Viện Ðại học, thầy Trí Quang nói với
tôi, anh nhắn linh mục Luận rút
lui đi; tôi nói lại với linh mục Luận,
ông không tin, vì cho rằng
nhóm
Lê Khắc Quyến, Lê Tuyên... vẫn
kính nể và cần ông. Chỉ khi
ông vắng mặt
ở Sài Gòn, nhóm Lê Khắc
Quyến, Lê Tuyên... mới truất phế ông;
Tôi đang
ở gần ông. Nghe tin đó ông buồn
và chỉ nói «họ không
dám làm như vậy
trước mặt tôi». Linh mục Cao Văn Luận
lúc ở Sài Gòn đã
không đọc được
trên tờ Lập Trương
những điều mà cái gọi là Ủy Ban
Nhân Dân Cách Mạng do bác sĩ
Lê Khắc
Quyến cầm đầu, đã nói về cha «con quạ
đen đeo kính trắng», nên không
ngờ đến sự phản phúc của nhóm người mà
linh mục đã từng ưu ái.
VI.Vi phạm
nhân quyền tại miền Nam. Bản báo cáo
của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc
về vụ
đàn áp Phật Giáo 1963
Tài liệu này do Võ Đình
Cường dịch bản tiếng anh, Thượng toạ Trí Quang
đề tựa, Hùng Khanh xuất bản 1966. Tài liệu
này có nói đến phái
đoàn ra
Huế, hội kiến với đại biểu chính phủ, tướng chỉ huy
Quân đoàn 1 mà
không gặp ông cố vấn Miền Trung như đã
gặp ông Ngô Đình Nhu cố vấn Tổng
thống và cũng không có chỗ
nào trong bản báo cáo nhắc đến
ông Cẩn như
thể không có ông. Lý do như
thế nào?
1. Báo
cáo của phái đoàn điều tra
Liên Hiệp Quốc
Việc vận động Liên Hiệp Quốc gởi một phái
đoàn mà nhân viên đều thuộc
các nước Á châu Phật Giáo
sang VN điều tra vi phạm nhân quyền trong vụ
Phật Giáo 1963 hẳn nằm trong kế hoạch chứng minh
là Phật giáo có dự
định lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm.
Chế độ ông Diệm xuất hiện trước dư luận thế giới như một bị
cáo. Nhưng
chính phủ Diệm đã dành thế chủ động,
đưa ra lời mời LHQ gởi phái đoàn
đến VN xem xét tại chỗ những vu cáo và
dành mọi sự dễ dãi cho phái
đoàn
đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai, kể cả những người đang bị
chính phủ giam
giữ, trừ Thượng toạ Trí Quang ẩn náu trong
toà Ðại sứ Mỹ. Phái đoàn gặp
một số nhân vật hàng đầu của chính phủ
: ông Diệm, ông Nhu, ông Phó
Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, ông Bùi Văn Lương bộ
trưởng nội vụ … Đáng
lưu ý hơn cả là phát biểu của
ông Nhu, người thật sự nắm quyền đối phó
với vụ khủng hoảng Phật giáo.
Lời phát biểu của ông Nhu, khác hẳn tất
cả các phát biểu của các
nhân
vật khác, vì lối nhìn vượt thời sự,
dẫn người nghe vào một phân tách
lịch sử, xã hội học, nhằm giải thích những biến
cố thời sự hiện tại.
Theo ông Nhu, đối với VN cũng như nhiều xứ khác
cùng hoàn cảnh, vấn đề
căn bản là vấn đề chậm tiến và Phật
Giáo chỉ là một khía cạnh của vấn
đề căn bản kể trên. Những phong trào
chính trị xã hội tôn giáo
phát
triển mạnh sau khi xứ sở thu hồi đựơc độc lập, nhưng cán bộ
lại thiếu
trong các phong trào ấy, cũng như trong guồng
máy chính phủ. Chính phủ
buộc phải nhờ chuyên viên nước ngoài
trong mọi lãnh vực và vì họ đều
có
chủ đích riêng, nên sự hiện diện của họ
đem lại cái lợi và cái bất lợi;
Đó là động lực tạo ra những tranh chấp. Phong
trào Phật Giáo cũng ở
trong tình trạng kể trên. Phong trào
phát triển mạnh, nhưng thiếu cán
bộ, nên có nhiều sai lệch không thể
tránh khỏi.
Ông trưởng phái đoàn: - Vấn đề Phật
Giáo
là vấn đề chậm tiến, như vậy Phật Giáo
phát triển
không bằng các cộng đồng khác.
Ông Nhu: - Vấn đề Phật Giáo bắt nguồn từ trước Đệ
Nhị Thế
Chiến và đặc
biệt từ những ngày tàn của thực dân;
Nhưng sự phục
hưng Phật Giáo không
đóng vai trò quan trọng lắm, vì những
lý do
riêng biệt của đạo Phật.
Tinh thần tự trị của chùa chiền, mỗi vị sư trụ
trì
và tín hữu tạo nên
một cộng đoàn độc lập. Giáo lý
và việc tu
trì mang màu sắc cá nhân
là
việc riêng của mỗi người. Nhưng mong ước phát
triển
lãnh đạo, lòng tha
thiết với thế tục, cụ thể hoá là nhu cầu kỹ nghệ
hoá. Phát triển cũng
đòi hỏi tranh đấu chính trị để giữ gìn
độc lập,
hoặc chống lại những
mưu toan của ngoại bang can thiệp chi phối nội tình VN theo
quyền lợi
của họ. Các phong trào chính trị
xã hội
tôn giáo, không riêng
gì Phật
Giáo, đều chia sẻ những khát vọng chung
và đều bị
lôi kéo giữa cộng sản
và đế quốc, giữa Ðông và
Tây. Tình
hình hiện tại chẳng qua vẫn là một
tiếp nối tình hình chung trong quá khứ
ở
trên. Đó là lối nhìn theo
xã
hội học và lịch sử. Nhìn vào hiện tại,
chính phủ đứng ngoài các tôn
giáo, nhưng phải đương đầu với cuộc chiến tranh do cộng sản
gây ra và
với những áp lực do chủ nghĩa ngoại lai mà
vì một
nhu cầu lịch sử Việt
Nam phải chấp nhận sự có mặt viện trợ từ bên
ngoài.
Trong tất cả các tổ
chức, đều có công tác ngấm ngầm do
bàn tay
Ðông hoặc Tây điều khiển;
cho đến cả trong cơ quan hành chánh và
quân
đội cũng có sự len lỏi của
chủ nghĩa ngoại lai. Viện trợ Hoa Kỳ rất quí báu
đối với
chúng tôi,
nhưng lại chứa mầm mống phân hoá. Phật tử cũng ở
trong
tình trạng bối
rối như tín đồ các tôn giáo
khác. Do
đó cần phải tìm một lối thoát ra
khỏi tình trạng kể trên.
Phật giáo có nhiều xu hướng; Xu hướng của Phật
Giáo Miền Nam không lưu
tâm nhiều đến những vấn đề thế tục, nên
không có những đụng chạm về
chính trị. Nhưng xu hướng Phật Giáo Bắc di cư
và Miền Trung lưu tâm
nhiều đến dự định trở thành một lực lượng chính
trị, vì thế dễ bị lạc
hướng, trở thành một công cụ chính trị
tới mức muốn lật đổ chế độ dựa
vào luận điểm Phật Giáo bị chèn
ép kỳ thị bạc đãi so với các
tôn giáo
khác phát triển mạnh hơn mình. Đặc
biệt, trước một âm mưu thâm độc của
cộng sản ở Miền Trung, họ đưa toàn xã
vào Thiên Chúa giáo, coi như
một
hình thức xâm nhập lũng đoạn. Tín đồ
Phật Giáo thấy nhiều xã theo Công
Giáo, lại cho đó là chủ trương của
chính phủ. Chính phủ rất lo lắng về
hiện tượng trở lại đạo Công Giáo hàng
loạt như thế và lực lượng an ninh
phải canh chừng những xã đó nhiều hơn
các xã khác.
Về vụ di cư vào Nam, nhiều người Phật Giáo cho
rằng vì Tổng thống là
Công Giáo nên chỉ lo cho người
Công Giáo di cư, trong khi thực ra đây
là tổ chức nội bộ của các tôn
giáo. Ai cũng thấy trên bình diện thế
tục, Công Giáo có tổ chức chặt chẽ hơn,
nên có trường hợp cả giáo khu
được tập hợp, được điều động di cư vào Nam. Trong khi Phật
tử thì rời
rạc, tản mác, không được tổ chức. Vị bộ trưởng của
chính phủ Diệm phụ
trách di cư, chống lại phong trào di cư,
vì cho rằng về phương diện
chính trị, tốt hơn là để họ ở lại miền Bắc,
vì họ là lực lượng chống
cộng sản, nếu đưa vào Nam mà không
làm vừa lòng họ, họ sẽ biến thành
lực lượng chống chính phủ. Đó là điều
làm cho Phật tử nghĩ rằng chính
phủ ưu đãi người công giáo.
Trên đây, là lược tóm mấy
ý tưởng chính trong lời phát biểu của
ông
Nhu. Phần cuối, ông nói về thái độ của
ông, tuy theo đạo Công Giáo
nhưng ông chống «giáo sĩ trị»,
một thái độ ông tiếp thu đuợc trong thời
kỳ du học Âu châu mà hầu hết
trí thức VN kể cả tu sĩ Công Giáo đều
có
thái độ như vậy. Sau cùng, ông
bày tỏ mối thiện cảm với Phật Giáo dựa
vào những kỷ niệm tốt đẹp thời niên thiếu hay đi
chùa để hưỡng không
khí thanh tịnh của cảnh chùa.
Phần II : Phái đoàn LHQ thẩm vấn các
nhân chứng được chia thành ba nhóm:
- Sư sãi bị giam giữ,
- Những nguời được phái đoàn mời đến gặp
- và những người tự ý đến gặp phái
đoàn.
Trong nhóm nhân chứng thứ nhất, nhiều người đều
khai chính vụ nổ sát
hại ở đài phát thanh Huế đã
châm ngòi cho phong trào chống đối
chính
phủ bắt đầu ở Huế rồi tràn vào Sài
Gòn. Trước 1963, ít nhân chứng
nói
đến hiện tượng kỳ thị đàn áp, mà chỉ
nhấn mạnh vào những ưu đãi thiên
vị thì có. Đặc biệt có nhân
chứng số tám, một chú tiểu tu ở Ấn Quang kể
cho phái đoàn biết chú đã
được dụ dỗ tham gia vào một nhóm mười người
sẽ đuợc tổ chức tự thiêu vào ngày Quốc
khánh, có sự hiện diện của phái
đoàn Liên Hiệp Quốc. Chú thắc mắc
làm sao có thể vào khu vực cấm,
thì
được trả lời người phụ trách các vụ tự
thiêu có những bố trí thích
đáng. Chú sẽ nhận đựợc một bộ đồ trắng, một
áo cà sa vàng có tẩm xăng,
sẽ có tài xế lái xe đưa chú
vào khu vực cấm. Đến nơi chú xuống xe mặc
áo cà sa có tẩm xăng, quẹt
diêm châm lửa đốt. Trước đó người ta sẽ
cho
chú mấy viên thuốc uống không
còn biết đau. Một buổi sáng, người thanh
niên dụ dỗ chú đến chùa trao cho
chú 3 bức thư, gửi tổng thống VNCH,
gửi thượng toạ Thích Thiện Hoà trụ trì
Ấn Quang và gửi Phái Ðoàn
Liên
Hiệp Quốc, bảo chú ký tên
vào 3 bức thư đã soạn sẵn, dặn chú tối
25/10
sẽ đưa chú đến một địa điểm bí mật, để
sáng sớm 26/10 đưa chú đến nơi
hành lễ, nhưng rủi thay, cảnh sát đến bắt
tôi trước khi người thanh
niên đến chùa tìm tôi. Trong
thời gian bị giam, tôi được giải thích về
những bịa đặt lừa bịp, tôi nên tôi
không còn ý định tự thiêu
nữa.
Trong số những nhân chứng được phái
đoàn mời hay tự ý đến, có người tố
cáo chính phủ kỳ thị, đàn
áp, có người nói ngược lại.
Xét về trình độ
nhận thức của các nhân chứng, có một
chênh lệch rõ rệt giữa các
nhân
chứng, những nhân chứng không nhìn nhận
có kỳ thị đàn áp thuộc
thành
phần trí thức, bác sĩ, giáo sư,
có lý luận phân tách
và đưa ra bằng cớ
như nhân chứng số 36: Cả gia đình tôi
theo Phật giáo, tôi làm việc cho
một hãng Hoa Kỳ không làm cho
chính phủ. Là người theo Phật Giáo
tôi
chỉ nói điều gì có lợi cho Phật
giáo. Tôi muốn ông biết tôi
không đến
đây để ủng hộ chính phủ, tôi đến
đây với tư cách công dân
và muốn phái
đoàn biết rõ sự thật: Các cuộc biểu
tình tự thiêu đều do cộng sản xúi
giục vì Việt Cộng không thể lợi dụng dân
chúng được, họ quay về các nhà
tu hành, lợi dụng họ chống chính phủ, nhưng
các Phật tử không ý thức
được Việt Cộng ủng hộ họ, chỉ để lợi dụng phong trào của họ.
Tôi cũng
được mời và khuyến khích tham dự biểu
tình, đôi khi với sự doạ nạt.
Nhiều nguời làm việc cho Hoa Kỳ cũng bị áp lực
như thế. Có những người
xúi dục đi biểu tình cũng làm việc cho
các hãng Hoa Kỳ nhưng họ không
bị bắt.
Nhân chứng số 38, một bà sống ở Huế chứng kiến
các
vụ lộn xộn sảy ra ở
đó: Tôi có dự lễ ở chùa Từ
Đàm, Thầy
Trí Quang đã giải thích những biểu
ngữ chống chính phủ và đòi phải
phát thanh
ghi những lời nói của thượng
toạ. Ai cũng có thể làm nhà sư,
nên
có sư thật, sư giả. Vậy có thể có
những người trá hình, tôi
dám nói
các nhà sư quá khích nhất
chính
là
cộng sản, và những nhà sư thật không
thể có
những hành động bạo lực
ganh tị. Tổng thống Diệm là người theo đạo Thiên
chúa nhưng có thái độ
khoan dung đối với các tôn giáo. Trong
trại
lính, có những chùa bên
cạnh các nhà thờ.
Nhân chứng số 39: Tôi là bác
sĩ theo Phật
Giáo từ khi ở Pháp về, là
bác
sĩ chính thức của hầu hết ni cô, nhà sư
Sài
Gòn, tôi đã làm trung gian
giữa Tổng thống Diệm và các Phật tử khi cần
thiết, như
tham dự những
buổi hội kiến giữa tổng thống Diệm và các
nhà
lãnh đạo Phật Giáo trước
biến cố 8/5. Chính phủ ban hành tình
trạng giới
nghiêm vì phong trào
sinh viên và các cuộc biểu
tình;
Chính phủ đã không làm việc
đó, nếu
không lo sợ một thảm hoạ sẽ xảy ra. Tôi
có những
tiếp xúc trực tiếp với
Tổng thống. Tôi có thể nói
dù Tổng thống
theo Thiên chúa giáo, TT
không
gần Thiên chúa giáo bằng Phật
giáo, TT hiểu
rõ các Phật sự. Một vài xu
hướng tinh thần của TT lại đượm màu sắc Phật Giáo
hơn
Thiên chúa giáo.
Nếu các kết luận của cuộc điều tra là
có sự kỳ thị
về phía chính phủ
đối với Phật giáo, thì ý kiến của
tôi
là TT không theo một đường lối kỳ
thị đối với Phật giáo.
Trong bài phát biểu cuả ông Nhu, những
từ ngoại lai, chủ nghĩa đế quốc,
trong tình thế lúc đó phải hiểu
ông Nhu ám chỉ Hoa kỳ. Bài
phát biểu
này cũng là lời nhắn mang tính
cách thách thức Hoa Kỳ để HK biết ông
đã
tìm ra một lối thoát mâu thuẫn cộng sản
- đế quốc. Đường lối này không
được nói ra trong bài phát biểu, nhưng
được nói ra trong các buổi đàm
luận với ông Manelli đại sứ Balan thuộc UHQTKSĐC.
Ông này sau đó đã kể
lại những vận động Pháp, Ý, Ấn Độ, Hà
Nội để thực hiện một đối thoại
trực tiếp giữa Hà Nội và Sài
Gòn trong cuốn: War of the vanquished và nội dung
những buổi gặp ông Nhu; Ông Nhu cho biết lập trường
chống
tư bản về xã hội và theo trung lập về
chính trị, tán thành hợp
tác với
miền Bắc: "Tôi không chống lại việc thưong thuyết
và hợp tác với miền
Bắc. Ngay trong những cuộc chiếu đấu ác liệt nhất, người
Việt Nam không
bao giờ quên rằng ai là người Việt, ai
là nguời ngoại quốc. Nếu chúng
tôi có thể mở một cuộc đối thoại trực tiếp
thì có thể tiến tới hoà
giải”. Trước khi gặp Manelli hay sau đó,
ông Nhu đã có những tiếp xúc
mật với ông Phạm Hùng và ông
đã tiết lộ với tướng lãnh. Họ mượn cớ
đó
để lật đổ ông Diệm. Nội dung những tiếp xúc
này cho đến nay vẫn chưa
tiết lộ.
Sau 1963, người Mỹ thực hiện việc giảm bớt hay xoá bỏ
tình trạng chậm
tiến trong phong trào Phật Giáo như ông
Nhu đã phân tách. Một bản
báo
cáo nhan đề: Phụ lục 6, tối mật, quỹ Asian Foundation, số
VSK416 ngày
25/10/65 Kính gửi ông chủ tịch, lưu ý
ông giám đốc phân bộ
Ðông Nam Á
về phong trào Phật Giáo ở VN. Tài liệu
này không rõ tại sao bị tiết lộ,
do hai người Mỹ đại diện Quakers American Friend Service Committee
là
Michael và Diane Jone gửi cho Tổng hội sinh viên
Sài Gòn, Võ Hồng Ngự
dịch. Trong bản báo cáo 10 trang này,
ông Frank Dines, nhận định Phật
Giáo đã đảm nhận một vai trò
chính trị xã hội nên có thể
biến Phật Giáo
thành một lực lượng có ưu thế trong
vòng một vài năm. Theo lối nhìn
đó,
Ðại học Vạn Hạnh có mục đích huấn luyện
giới lãnh đạo tương lai Phật
Giáo tại chỗ, và Hoa Kỳ thực hịên
chính sách cấp học bổng cho tăng ni
du học ở Hoa Kỳ vì trong số 20 ngàn tăng ni ở
Việt Nam chưa đầy 20
người học ở nước ngoài và không
quá 30 người đỗ cử nhân ở Việt Nam.
Những người này chỉ trong một thời gian ngắn sẽ về nước giữ
những vị
trí quan trọng ở Viện hoá đạo, Ðại học
Vạn Hạnh và nhiều chùa khác. Họ
sẽ trở thành những diễn giả chính yếu của Hoa Kỳ
và chính sách của Hoa
Kỳ cho Phật giáo. [4]
2 .Văn thư khiếu nại về
đàn áp Phật giáo.
Sau vụ binh biến 1/11/1963 một Phật tử trao cho tôi 125 văn
thư
khiếu
nại về các cuộc đàn áp Phật
Giáo đồ, cho
biết văn thư có nhiều để ở
chùa Xá Lợi và đêm
quân đội tấn
công lục soát chùa 20/8/1963
đã bị lấy
đi mất cả, chỉ còn lại chừng này. Những văn thư
khiếu nại
của các Khuôn
hội cấp xã quận, cấp tỉnh giữa chính quyển
các cấp
và của Phật Giáo
Trung phần gửi tổng thống VNCH, gửi Chủ tịch quốc hội, khiếu nại về
nhiều vụ như cưỡng bách Phật tử bỏ đạo Phật theo đạo
Chúa, bắt bớ, giam
cầm, tra khảo, hăm doạ, vu khống, phá phách
chùa
chiền, có người bị
đánh đập đến chết. Như vậy những văn thư này cho
thấy quả
thật có những
vụ đàn áp, tàn sát người
theo đạo Phật
vì lý do tôn giáo hay
vì những
lý do khác. Tại sao những vụ này chỉ
xảy ra ở Miền
Trung, đặc biệt
trong ba tỉnh Phú Yên, Quãng
Ngãi,
Bình Định. Đọc tài liệu báo
cáo của
Phái Đoàn Điều Tra Liên Hiệp Quốc
không thấy
nói có chương trình đi
thăm ba tỉnh kể trên, mặc dù có mấy
nhân
chứng được phái đoàn gặp đã
nhắc đến mấy vụ đàn áp, mà lại đi thăm
Phan Rang,
Phan Thiết là hai
tỉnh cực Nam của Miền Trung; không thấy nói
có
những vụ đối xử với
người theo đạo Phật tương tự ở 3 tỉnh kia. Tại sao vậy?
Một thắc mắc khác, những văn thư khiếu nại, nhất
là văn thư gửi cho Phủ
Tổng Thống, Quốc Hội, có được chuyển đến những nơi
đó không, hay bị giữ
lại ở văn phòng Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung?
Theo một nguồn tin thời đó, khi xảy ra vụ Phật
Giáo ở Miền Trung Phủ
Tổng Thống ngạc nhiên, vì không hay biềt
gì cả. Nếu thật sự như vậy,
tại sao ông Cẩn không trình
báo cho Phủ Tổng Thống? Còn chính nội
dung
những việc tố cáo, sự thật ra sao? muốn biết, thiết tưởng
không có cách
náo khác là đến tại chỗ điều tra, hỏi
những người trách nhiệm và nhân
chứng. Nhưng sau 40 năm, còn bao nhiêu
nhân chứng và nếu còn, liệu
có
người nào có thể nói lên sự
thật một cách trung thực? Trung thực đến
mức nào, khi năm tháng chồng chất ảnh hưởng đến
ký ức từng cá nhân.
Một cách tổng quát có thể ghi nhận: 3
tỉnh có nhiều văn thư khiếu tố kể
trên đều thuộc vùng Việt Minh kiểm soát
từ 1945 cho đến hiệp định
Geneve 1954, chuyển sang chính quyền Quốc gia. Có
những người gốc Phật
Giáo theo kháng chiến, bây giờ theo
quốc gia, công khai hay lén lút
«
nằm vùng » trong các khuôn
hội Phật Giáo. Trong một tình hình như
vậy,
thật dễ hiểu nếu xảy ra những vụ ân oán trả
thù. Tình trạng ân oán
này
càng trầm trọng hơn trước một « chính
sách đặt cộng sản ra ngoài vòng
pháp luật » và dùng baọ lực
để tiêu diệt cộng sản. ĐCTĐBMT lùng bắt hầu
hết các cán bộ đảng viên trung, cao cấp
(quận tỉnh) và cấp liên khu.
Nhưng còn cấp xã thì sao? Liệu
Đoàn CT có kiểm soát được những vụ bắt
bớ hay không? hoặc mặc cho cán bộ cấp
xã tự do thao túng? Trường hợp
không kiểm soát được cán bộ cấp
xã, làm sao tránh khỏi những quy chụp
oan uổng để bắt bớ và bức hại. Những thắc mắc này
xin gửi đến ông Dương
Văn Hiếu, và các ông Hồ Đắc Trọng,
Nguyễn văn Minh thường trực ở văn
phòng Cố Vấn Chỉ Đạo và Thượng Toạ Trí
Quang, người hợp tác với ông Ngô
Đình Cẩn, điều hành đường lối Phật
Giáo ở miền Trung.
Một trí thức Phật Giáo tranh đấu trao cho
tôi xấp văn thư này ở toà soạn
Bách Khoa
sau đảo chính 1963. Những văn thư này gồm 2 loại,
bản đánh máy nguyên
bản thành nhiều bản, bản của tôi còn
khá rõ đọc được, bản quay roneo
các văn thư được sắp xếp thành hồ sơ theo tỉnh ở
một thời gian nhất
định, chẳng hạn hồ sơ đàn áp Phật Giáo
đồ tỉnh Phú Yên năm 1960-1961.
Những người bị bắt
tù đày
là người theo Phật giáo, nhưng về
chính trị
họ theo các đảng Cộng sản, Đại việt, VN quốc dân
đảng
…. mấy tỉnh Miền
Trung này dưới quyền kiểm soát của Việt Minh cho
đến
1954. Việt Minh có
chủ trương diệt đảng phái. Sau 1954 làm sao
VNQuốc
Dân Đảng, Đại Việt,
lại có thế tránh khỏi sự trả thù những
người bị
coi là cộng sản: “Đại
Việt Miền Trung bắt được kháng chiến cộng sản là
họ mang
ra làm thịt
còn lẹ hơn cả cậu Cẩn, vì ĐV không
có chỗ
nhốt tù (Bội phản hay chân chính?,
trang
312)”.
Mật vụ ộng Cẩn cũng không dung dưỡng ĐV, VNQDĐ. Họ bị bắt,
và nhốt
chung với cán bộ cộng sản. Lãnh tụ ÐV
Hà Thúc Ký bị mật vụ bắt giam,
sau 1963, được tự do, khi làm Bộ trưởng bộ Nội vụ,
ông ta ra lệnh thả
tất cả tù cộng sản đã bị giam trong tù
ông Cẩn đồng thời với mình.
Trên thực tế, Miền Trung thời đó, không
có phe nhóm nào tôn trọng
nhân
quyền. Một hiện tượng phi lý nhưng có thật:
Hàng loạt người đi theo đạo
Chúa. Ai chủ trương và nhằm mục đích
gì.? Giáo phẩm và chính phủ
không
thể làm như thế. Theo ông Nhu trong bài
trả lời Phái Đoàn Liên Hiệp
Quốc, đó là thủ đoạn của cộng sản bắn một mũi
tên giết hai con chim:
Đưa người của mình theo đạo hàng loạt, rồi tung
ra luận điệu tố cáo
Công Giáo cấu kết với chính quyền
gây chia rẽ oán thù tôn
giáo, đồng
thời đảm bảo an ninh cho của người của mình vì
là công giáo. Ông Nhu
cho biết những làng có hàng loạt người
theo đạo Chúa như vậy là mối lo
ngại hàng đầu về an ninh của chính quyền.
Có lẽ vì thực tế phức tạp và
khó tin chính phủ kỳ thị kiểu đó, đồng
thời đụng đến giáo phẩm, mà nếu
được yêu cầu xác nhận thì
giáo hội sẽ phủ nhận, nên những vụ đàn
áp ở
Miền Trung không được đưa vào chương
trình nghị sự điều tra của Phái
Đoàn Liên Hiệp Quốc.
VII. Thượng toạ
Trí Quang.
Một nhân vật lãnh đạo Phật Giáo
liên hệ mật thiết vối các biến cố từ
1963 có nhiều bí ẩn và do
đó có nhiều ý kiến trái
ngược về con người và
lập trường chính trị của ông, đặc biệt về hai điểm
then chốt:
- ông là chân tu hay chỉ là
một người làm chính trị đội lốt nhà tu,
- ông là cộng sản hay chỉ lợi dụng cộng sản
Do đó, vai trò thực sự của ông trong vụ
Phật Giáo, trong thời gian ở
Huế cộng tác với Ngô Đình Cẩn
và thời gian ở Sài Gòn, sau khi
ông Cẩn
bị xử bắn?
Về điểm thứ nhất, xin thuật lại những lời kể của giáo sư
Trần
Thái Đỉnh
với tôi: «Lúc tôi
làm giám đốc
đại chủng viện Huế trước 1963, một hôm
đi phố mua sách Phật gặp một nhà sư
vái tôi,
tự xưng là Trí Quang, muốn
làm quen tiếp xúc với tôi để
đàm đạo về Phật
học, vì đọc các bài tôi
viết và nghe các đệ tử đi học triết học Phật
Giáo
tôi giảng ở Huế, cảm
phục tôi hiểu Phật học, mời tôi lên
chùa Từ
Đàm. Tôi lên xin phép
Ðức
cha Điền, Giám mục địa phận Huế. Ngài
nói
không những tôi cho phép cha
mà còn yêu cầu cha lên gặp
thầy Trí
Quang. Sau đó tôi thường lên
chùa
trao đổi Phật học và ăn cơm chay, đôi khi
có cả cha
Luận, Lãnh Sự Mỹ và
mấy giáo sư đại học. Thày Trí Quang
ngồi cạnh
tôi và sau bữa ăn tiễn
tôi xuống hết đồi chùa Từ Đàm.
Có lần, thời
ông Diệm, thầy trí Quang
nói với tôi: Linh mục xem Bộ trưởng,