Nhìn lại những chặng đường đã qua

Nguyễn Văn Trung


Phần VIII
Vẽ đường cho hươu chạy
Nguyễn văn Trung

1 2 3 4 5 6 7 8

“… Tôi cố gắng viết lại những gì tôi đã đọc đã thấy, để một ngày nào đó, thế hệ hôm nay và mai sau, dĩ nhiên chấp nhận hiện tại, và có những lựa chọn từ hiện tại, nhưng cũng buộc phải nghĩ lại quá khứ để có được những lựa chọn xác đáng…”

Vẽ đường cho hươu chạy

(Vì đâu nên nỗi cái nghiệp tử hình của ông Ngô Đình Cẩn, Cố vấn chỉ đạo Miền Trung?)

Lời nói đầu

Mức độ đáng tin cậy của một công trình biên khảo tuỳ thuộc vào điều kiện có tài liệu và cách đọc tài liệu. Trở ngại đáng kể của mọi tài liệu từ hồi ký, sách, báo, sử ký, đến báo cáo nội bộ tối mật, taát caû ñeàu khó tránh được thiếu sót, vì người ta không muốn hoặc không thể nói hết những gì cần nói, và nói thật những gì người ta biết.

Lời nói gồm nội dung cái nói ra, cái có ý nói ra và cái không nói ra (les non-dits) nghĩa là những cái cố ý hay không cố ý nói ra. Nói cách khác có những cái bị che dấu trong lời nói ra; vậy làm sao biết được những cái không nói ra mà không phải do suy diễn võ đoán? Bằng cách móc nối, so sánh cái nói ra và cái không nói ra trong mối liên hệ những tài liệu của một người nói hoặc của nhiều người cùng nói veà một vấn đề.

Viết về ông Ngô Đình Cẩn, điều tôi muốn tìm hiểu là mối quan hệ giữa ông Ngô Đình Cẩn và Thượng toa Thích Trí Quang, bằng cách đối chiếu những điều đã nói ra với những cái không nói ra trong các tài liệu mà tôi có, để từ đó phác thảo một nhận định về vụ phật giáo, về cái gọi là “chính sách kỳ thị đàn áp Phật Giáo” mà một số sách, báo đã quy cho gia đình ông Ngô Ðình Diệm mà ông Cẩn là một thành viên.

I. Báo chí Sài Gòn tường thuật vụ xử án và xử bắn ông Cẩn

Báo Thần Chung ra chương đặc biệt về Những vụ án thế kỷ, số 9 ngày 18 và 19/07/1965. Dưới đây là những nét chính của vụ xử án Ông Cẩn được thuật lại theo tài liệu của báo.

Toà án cách mạng xử vụ Ngô Đình Cẩn nhóm tại pháp đình Sài Gòn ngày 6/4/1964 gồm các mục: Tóm tắt nội vụ, căn cước của Ngô Đình Cẩn, thành phần toà án, bản án mật vụ, tường thuật vụ xử bắn 5 giờ chiều thứ bảy 9/5/1964, báo đăng nhiều hình ảnh: Ông Lê Văn Thụ chánh thẩm, cảnh phiên toà, công tố viện thiếu tá Lê Văn Đức, luật sư Võ Văn Quan, ảnh Ngô Đình Cẩn trước toà án, ảnh bị cột vào cột xử bắn, ảnh sau khi bị xử bắn, xe tang chở xác đi chôn, bút tích ông Cẩn ghi trên thiệp gửi luật sư Quan xin hết lòng cảm tạ.
Tờ Tiếng nói dân tộc, phụ trang đặt biệt kỷ niệm ngày 1/11/1963 có bài tường thuật những giờ phút cuối cùng của ông Cẩn trước khi bị xử bắn, phóng viên báo có ghi lại cảm tưởng: "Vô cùng kinh ngạc về thái độ dửng dưng và thật trầm tĩnh của con người được mệnh danh là cậu Út Trầu, lúc mà Ngô Ðình Cẩn biết bị bác đơn xin ân xá". Ký giả đưa ra nhiều giả thuyết giải thích. Ông Cẩn im lặng chỉ hở môi để cám ơn luật sư Quan và yêu cầu đừng bịt mắt ông vì ông không sợ chết. Điều đáng lưu ý là những tội đưa ra để kết án ông Cẩn, không có tội nào liên quan đến kỳ thị, đàn áp tàn sát phật tử, ngay cả nói xa gần đến vụ Phật Giáo cũng không, mặc dầu vụ Phật Giáo khởi đầu từ Miền Trung là nguyên nhân trực tiếp làm sụp đổ chế độ đệ nhất Cộng Hoà và dẫn đến bản án tử hình.của ông Cẩn trước toà “Cách mạng” tại Sài Gòn.

Những ai đã chứng kiến phiên toà xử ông Cẩn và cảnh xử bắn ông Ngô Đình Cẩn, có lẽ cho đến bây giờ, vẫn không nghĩ khác những gì ông Nam Đình, một ký giả lão thành của làng báo Miền Nam, đã ghi lại như tài liệu để nghiên cứu. Báo Thần Chung cũng như nhiều báo khác, đều nêu thắc mắc tại sao ông Cẩn im lặng bình thản trước phiên toà xử và lúc bị bắn. Tôi cũng thắc mắc tự hỏi mà không giải thích được. Phải đợi đến năm 1992, nhóm đảng viên Cộng sản, cựu tù nhân của Ðội Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung( ÐCTÐBMT), phổ biến tập gọi là Bội phản hay chân chính ở Sài Gòn, và luật sư Võ Văn Quan biện hộ cho ông Cẩn cho đăng hồi ký về vụ án trong tờ Thế Giới Ngày Nay ở Kansas, Hoa Kỳ, cũng vào khoảng cuối năm 1992. Hai tài liều khá xa xôi nhưng cùng soi chút ánh sáng về 2 điểm chính:
1. Ông Cẩn không những không phải là thủ phạm hay ít ra là có dính líu tới vụ gọi là đàn áp Phật Giáo, mà còn ủng hộ cuộc tranh đấu Phật giáo, chống lại những biện pháp ông Diệm, Ông Nhu đưa ra vì nghe theo ông Ngô Ðìng Thục thay vì nghe theo ông Cẩn.

2. Thành tích diệt cộng của ông Cẩn là tuyệt vời, đã đem lại an ninh cho miền trung, đảm bảo một cách hiệu nghiệm mục tiêu số 1 liên quan đến sự tồn tại của chế độ VNCH. [1]
Những điểm kể trên ông Cẩn không thể nói ra được, và dù có nói ra, cũng chẳng ai tin, nên ông chỉ còn biết im lặng và lựa chọn thái độ thích hợp mà tôn giáo của ông đã dạy ông: Tha thứ cho những người đáng lẽ phải biết ơn công lao của ông, lại đi thù ghét ông, kết án ông. Chính vị linh mục tuyên úy, người gần gũi Ngô Ðình Cẩn vào những giờ phút sau cùng đã tiết lộ điều này: Ông Cẩn theo gương chúa trước khi chết trên thập giá, đã nói "lạy cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm".

II. Bội Phản Hay Chân Chính


Bội Phản Hay Chân Chính là cuốn hồi ký tập thể của một số cựu tù nhân của ÐCTÐBMT. Một số người trong nhóm đảng viên Cộng sản hoạt động bí mật tại miền nam Việt Nam bị Ðội Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung do Ngô Ðình Cẩn cố vấn chỉ đạo, khi nghe Lê Ðức Thọ, trưởng ban Tổ chức Trung Ương, nói là «những người bị tù dưới chế độ Mỹ Nguỵ, đều có vấn đề», họ cảm thấy vô cùng uất hận. Sau năm 1975, họ đã bị mất chức, bị khai trừ khỏi đảng Cộng sản, nhiều người chết trong niềm oán hận đảng. Họ định xuất bản cuốn hồi ký một cách công khai. Tài liệu của nhóm cựu tù nhân này soạn ra mục đích là để gửi cho đảng Cộng sản Việt Nam, đòi phục hồi danh dự cho các đồng chí của ho, có người mất chức và bị khai trừ có người đã chết, dĩ nhiên phải tỏ ra rất quyết tâm tin tưởng ở đảng. Nhưng trong các bài hay thư viết cho tôi, tâm sự của soạn giả lại khác. Họ nhờ Ông Trần Quốc Hương, người chỉ huy mạng lưới tình báo chiến lược Cộng sản, cũng từng bị bắt, họ gửi thư tay cho Phó Bí Thư thành uỷ TPHCM để nhờ nhà xuất bản TPHCM, nhưng chờ mãi không được, họ liền in 100 tập, đem phổ biến vào tháng 9-92.

Trên trang đầu, người biên tập viết: «Bằng tác phẩm này, tôi muốn nói với Ðảng, với người yêu kẻ ghét, nói thay cho người đã chết và cho cả người còn sống. Xin gửi tới các đồng chí Ủy Viên, Ban chấp hành Trung Ương Ðảng, Ủy viên ban bí thư TƯÐ vv.» Sau khi đọc, tôi liên lạc với soạn giả để tìm hiểu thêm. Ông lần lượt trao cho tôi các bức thư gửi đại diện ban Bí thư TƯ, thư thông báo cho các đồng chí của ông kết quả các buổi gặp gỡ với các cấp lãnh đạo đảng, 40 cuốn băng ghi lại phát biểu của từng người và những trao đổi giữa họ với nhau. Thêm vào đó là một bài viết: "Nhà văn bất đắc dĩ" nội dung kể lại diễn tiến các buổi sinh hoạt của nhóm.

Trong những thư viết riêng cho tôi, ông chỉ nói tới các tài liệu, những dụng ý ngầm không nói ra qua những điều viết ra, và cho biết 40 cuốn băng là trung thực hơn cả. Những cuốn băng này «do tôi bảo quản không tốt đã bị hư hỏng hết không còn dùng được nữa, chỉ còn bản lược tóm mà tôi nhờ ông ghi dùm». Trong thư đầu tiên ông gửi cho tôi, ông gọi tôi là thầy và viết: «Tôi ái mộ thầy Trung từ khi đọc cuốn sách về Phạm Quỳnh, tôi cảm động và sung sướng nếu thầy đọc cuốn sách đầu tay của tôi và hân hạnh thấy thầy dành cho tôi một khoảng không gian trong tác phẩm Trở Về Nguồn của thầy. Thư sau, tôi đề nghị ông gọi tôi là anh, do đó ông thân thiện hơn và không ngại cho tôi biết việc Công an theo dõi và nhận định về tôi thế nào qua các liên lạc với ông và bạn bè ông, hoặc ngay cả phiền trách tôi: Ðúng là nhà trí thức nghiên cứu về CS, nhưng không phải đảng viên. Anh không hiểu sẽ gây rắc rối cho tác giả thế nào khi anh nói về nguồn gốc xuất xứ tài liệu và những liên hệ với tôi, các bạn tôi. Người ta coi tôi là người cung cấp tư liệu để anh chống Cộng đấy, anh thì người ta không đụng được, còn tác giả đưa cho anh thứ nọ thứ kia thì người ta không tha đâu".
Bây giờ ông đã qua đời, nên tôi có thể nói lên phần nào tâm tình của ông. [2]

Đọc suốt tập sách, nhiều lần tôi tự hỏi: ông có thành thực nói những điều ông đã nói ra hay không? Tôi thấy tâm tình của ông đối với đảng Cộng sản bị sứt mẻ nhiều, nhưng bề ngoài vẫn phải tỏ ra trung kiên tin tưởng. Nhiều điều ông phê phán đảng, thì lại đặt vào miệng ông Dương Văn Hiếu, không trực tiếp nói thẳng ra, Những sự kiện về tình cảnh nhà tù, nhiều chỗ cũng cường điệu, bi thảm hoá sự tàn bạo của Đoàn công tác đặc biệt miền Trung. Ðiều này đã làm cho ông Dương Văn Hiếu tức giận, khi tôi gửi bản Bội phản hay Chân chính cho ông ta đọc. Ông tức giận và nói: nếu tàn bạo như thế làm sao cảm hoá họ và đưa đến cộng tác! Nhưng về tâm tình đối với chế độ Miền Nam mà ông nhằm lật đổ, tôi nghĩ ông thành thật khi bày tỏ nỗi niềm đau xót, tủi nhục trong sách lược chiến tranh khuynh đảo.

Ðọc tài liệu và tiếp xúc với các bạn ông, tôi phải cám ơn ông Cẩn, vì nhờ Đoàn công tác của ông mà tôi đi xe lửa Huế Sài Gòn ban đêm thật yên ổn, và do đó buộc tôi phải duyệt lại những thiên kiến, thái độ khinh bỉ coi thường ông Cẩn và các cơ quan tình báo của VNCH thời ông Diệm. Và sau cùng, tôi cũng phải nhìn nhận như các ông Cộng Sản rằng: ông Ngô đình Cẩn là người giỏi thật, mưu trí thật.

Ông Ngô Đình Nhu còn đáng phục hơn, ông là cố vấn Tổng Thống, bay ra Huế gặp riêng ông Mười Hương, hai người bàn bạc gì nay chỉ còn ông Muời Hương biết. Nếu ông Mười Hương bị ông Nhu bắt có thể ông không giữ, mà thả ngay, như một ông nguyên bí thư Thành Uỷ Sàigòn nói với tôi: Chúng tôi phục ông Nhu về tầm nhìn xa trông rộng, ông bắt được cán bộ lãnh đạo của chúng tôi, ông thả ngay. Vì ông nghĩ nếu một ngày nào đó cần phải thương nghị với chúng tôi thì có người cân xứng mà nói chuyện. Vì Cộng Sản ca tụng ông Nhu và đọc tài liệu của họ như Thư Vào Nam của Lê Duẩn gửi anh Mười Nguyễn văn Linh, động viên đừng bi quan trước tình cảnh đen tối của Cách mạng vì Quốc sách Ấp chiến lược, tôi cũng thấy cần duyệt lại những thiên kiến coi thường các lý thuyết mà ông Nhu đã trình bày như chủ nghĩa nhân vị, tổ chức đảng Cần lao và sau cùng lý thuyết về ấp chiến lược mà vào lúc đó, tôi buộc phải đi dự cùng với các giáo chức đại học. Lúc đó, tôi không thèm đọc tài liệu, hoặc nghe thuyết trình, bây giờ đọc lại, tôi hiểu tại sao bề ngoài ông phải đưa ra những lý thuyết tổ chức đảng như vậy và tư tưởng chính trị thực sự của ông như thế nào.

Đọc Bội phản hay chân chính, tôi mới hiểu tại sao ông Cẩn im lặng. Những tội danh mà toà án «cách mạng» đưa ra để buộc tội ông Cẩn, đúng ra phải là dành cho một người thuộc thẩm quyền của công an, một cơ quan hợp pháp, công khai, trong khi tổ chức ĐCT ĐBMT là một tổ chức hoạt động trong bóng tối vượt ra khỏi mọi luật lệ của chính quyền nhằm mục đích chính là diệt những người cộng sản đã bị đạo luật 10/59 đặt ra ngoài vòng pháp luật, vì chủ trương dùng khủng bố bạo lực cách mạng để tiêu diệt chế độ VNCH trong chiến tranh khuynh đảo, nên không thể dùng pháp luật toà án để chống lại «khủng bố cách mạng» vì làm như thế sẽ thua cộng sản và mất chế độ; Để đối phó và «tiêu diệt khủng bố cách mạng» ông Cẩn chủ truơng dùng khủng bố chống cách mạng.

Nói về Sài Gòn, ông viết: "Sài Gòn 1958 quá đẹp, quá yên tĩnh. Sự sôi động của phong trào quần chúng trước đây hoàn toàn bị đầy lui vào dĩ vãng nhường chỗ cho một SÀI GÒN thanh bình lý tưởng, cho những người đã bắt cóc anh. Sài Gòn sau 75, càng về sau cái thành phố cứ héo hon dần. Khu thương mại trung tâm từ chợ Bến Thành, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, đường Đồng Khời xưa kia là « Catinat » rồi đổi thành Tự Do, không kéo dài từ nhà thờ Ðức Bà tới nhà hàng Maxime và khách sạn Majestic, cả một liên khúc phố xá đầy cửa hàng choáng lộn, tràn ngập hàng hoá xa xỉ lẫn thường dùng, nay không còn nữa! Thay vào đó, là các chung cư nhà tập thể, nhà cửa cái mở cái đóng đường xá nhếch nhác, hàng hoá biến mất thay vào đó là các hàng ăn, hàng phở, quán cóc là phổ biến, bia hơi nghêu luộc và hột vịt lộn. Ban đêm thiếu ánh sáng các « chị em ta » cứ việc thoải mái hành nghề ở các Ki-ốt đường Nguyển Huệ. gần bến Bạch Đằng".

Đó là một đoạn mở đầu trong bài soạn giả viết 3 năm sau cuốn Bội phản hay chân chính, gọi là «nhà văn bất đắc dĩ» (1995), kể lại diễn tiến việc qui tụ các đồng chí cựu tù nhân của Ðội Công Tác Ðặc Biệt do ông Cẩn chỉ đạo, để viết ra cuốn hồi ký tập thể về thời gian họ bị mật vụ ông Cẩn cầm tù. Điều đáng lưu ý hơn cả trong bài này là soạn giả nói đến thái độ những người cộng sản tuổi đảng cao, trung kiên nhất, sợ đảng như thế nào. Tôi trích dẫn giới thiệu một số trang trong bài 25 trang này. Sau cùng ông trao cho tôi một bản Bội phản hay chân chính khác, có ghi dành cho con cháu nhân dịp lễ sinh nhật 1992 "hãy coi kỹ để biết cha ông từng dành quyền sống như thế nào và thế nào là cái thời quan điểm với lập truờng hãy lo học hành khoa học kỹ thuật, nghệ thuật thể thao. Đừng làm chính trị, chớ vào đảng phái, chớ làm 2 cái nghề tình báo công an".

Tờ Ngày Nay ở Houston, số 374, ngày 15/09/1997 đăng chương đầu tập Bội phản hay Chân chính với cái tựa là « Khi cộng sản Việt Nam vắt chanh bỏ vỏ các đảng viên trung kiên của họ». Tôi có liên lạc với tờ báo, và cho biết cách giải thích như vậy là không đúng đâu. Tài liệu này được soạn thảo nhằm mục đích yêu cầu lãnh đạo đảng phục hồi danh dự cho các đồng chí của họ bị chết oan và họ đã đạt được mục đích đó. Những người chống cộng đọc tài liệu này, nên nghĩ đến phục hồi danh dự cho ông Cẩn (đã chết) im lặng ngâm đắng nuốt cay cho đến chết và ông Dương Văn Hiếu (còn sống ở San Jose). Cuối năm 2002, nhà xuất bản Công an nhân dân cho ra mắt cuốn Phạm Xuân Ẩn, tên người như cuộc đời, và báo Thanh Niên đăng loạt bài ký sự nhân vật tướng tình báo chiến lược từ số 280 ngày 7/10/2002 đến số 332 ngày 28/11/2002 có nhiều thông tin về tình hình cách mạng Miền Nam từ 1954 –1959. Ông Mai Chí Thọ coi thời kỳ đó là đen tối của Cách Mạng miền Nam. Lúc đầu riêng miền đông Nam bộ, cán bộ sàng lọc lại vẫn còn 20 ngàn người, nhưng đến 1959 chỉ còn hơn 800, nghĩa là chưa tới 5%.

Trong tập Bội Phản Hay Chân Chính" có một chương «So Sánh» cho thấy nhà tù của mật vụ ông Cẩn là một tổ chức khá tinh vi, không có song sắt, mật vụ VNCH cùng với kháng chiến Việt cộng ăn chung ngủ chung, chơi chung, công tác chung nhằm chuyển hướng những người kháng chiến cũ trở về với chính nghĩa quốc gia; chương «Cán Bộ Chuyển Hướng» tường thuật lại diễn tiến quá trình bỏ cộng sản theo quốc gia của một thành uỷ viên Thừa Thiên; đoạn cảm động hơn cả, là chỗ đồng chí lãnh đạo này xuống núi, tìm nhà một bà «má nuôi» để có thức ăn và buộc phải ra đầu thú. Ông khóc, anh công an quốc gia tưởng lầm ông thiếu thái độ dũng cảm của người chiến sĩ cộng sản, trong khi, thực ra ông chỉ thấy đau xót nhục nhã vì thua cuộc. Sau 3 năm soạn giả viết bài "Nhà Văn Bất Đắc Dĩ" kể lại tâm trạng của những người cựu tù nhân tụ họp để viết hồi ký tập thể, cảm thấy sợ đi họp hoặc ông chủ nhà sợ cho anh em tiếp tục mượn nhà: “Tôi nêu ra ở đây để muốn nói lên cái oai của ta là như thế đấy. Tất cả anh em họp đều có quá trình chiến đấu cao, thành tích lớn, hầu hết có huy hiệu 45 tuổi đảng, tất cả đều trải qua 2 cuộc kháng chiến, đều là cựu tù chính trị. Được đảng tin cậy nhường đó mà sợ đảng thế đó.”

III. “Luật sư nghề hay nghiệp?”

Vài cảm nghĩ và kỷ niệm về một thời kỳ hành nghề. Vụ án Ngô Đình Cẩn, hay từ cố vấn chỉ đạo thành tử tội.

Trước hết luật sư Quan nói về bối cảnh của vụ án. Ông có ác cảm với ông Cẩn bị tai tiếng lãnh chúa miền Trung, nên khi ông Cẩn bị giam ở Chí Hoà, ông hi vọng ông Cẩn sẽ được đem ra xét xử một cách đứng đắn, không bị hạ sát một cách ám muội như ông Diệm, Ông Nhu.

Nhìn vào tình hình lúc đó, thời Nguyễn Khánh cầm quyền, ông nhận thấy những thủ đoạn chia để trị, bắt cá hai tay giữa 2 khối Công giáo và Phật giáo, gây hỗn loạn suốt 3 năm trời. Việc hạ sát thiếu tá Nhung, người đã nhận lệnh giết hai ông Diệm, Nhu, để mua chuộc cảm tình của giới Thiên chúa giáo và những người thương tiếc chế độ ông Diệm, nhưng lại gây căm phẩn trong giới Phật giáo, tố cáo chính quyền có nhiều Cần lao ác ôn, nên Nguyễn Khánh tuyên bố đưa Ngô Đình Cẩn ra xét xử ngay, để mua chuộc sự ủng hộ của giới Phật giáo.

Luật sư Quan nhận lời bà Trần Trung Dung đề nghị ông biện hộ cho ông Cẩn, mặc dầu cả ông và bà Dung đều biết ông Cẩn sẽ bị kết án tử hình, nhưng chỉ cần tại toà án, lụât sư nói lên giùm ông cậu sự tức giận đối với những kẻ trước đây luồn cúi nịnh bợ, nay phản phúc, mạt sát ông, nay ra làm chứng hay ngồi ghế hội thẩm để kết án ông Cẩn.

Tiếp xúc với thân chủ và hồ sơ của bị cáo, ông thấy ông Cẩn bị truy tố về 2 tội:

- 1) làm kinh tài bất hợp pháp, lũng đoạn kinh tế quốc gia, đầu cơ nhu yếu phẩm, buôn bán với Việt cộng. Điều này đáng lo ngại nếu có giấy tờ chứng minh; nhưng điều làm cho ông luật sư ngạc nhiên, là chỉ có những tố cáo mà không có hồ sơ gì cả.

- 2 ) ông Cẩn ra lệnh cho công an bắt giam trái phép, cưỡng đoạt tài sản của mấy thương gia, hạ sát họ. Nhưng về tội này càng không có tài liệu nào cả, chỉ có nhân chứng tố cáo mà thôi. Luật sư được biết ông Cẩn sẽ bị đem ra xét xử ở Huế, nơi đây dân chúng sẽ làm áp lực mạnh đòi xử tử. Nhưng ngày định xét xử, quan toà và luật sư đã đến chờ đem bị cáo ra, nhưng rút cục, bị cáo vẫn ở Sài Gòn, nên toà phải đình chỉ “vì vậy ngày đó tại phiên xử của toà án cách mạng Huế, mới diễn ra màn kịch có một không hai trong lịch sử tư pháp VNCH”.

Tại phiên toà xử ở Sài Gòn có 4 phụ thẩm quân sự: Đại tá Nguyễn Văn Chuân, đại tá Đặng Văn Quang, Đại tá Trương Văn Chương, Trung tá Dương Hiếu Nghĩa, những vị mà luật sư hiểu thành tích của họ không có gì để đề cao, còn ông Cẩn suốt các phiên xử, nhìn thẳng các phụ thẩm, mắt ông long lên sòng sọc sau cặp kính trắng. Sau phiên toà ông Cẩn vừa cảm xúc vừa khinh bỉ nói với luật sư: “Luật sư biết không, lúc trước những tên đó tới lui tại nhà tôi, khúm núm xưng con, cầu cạnh xin xỏ, bây giờ bọn nó tiếp tay ngồi phiên toà này xử tôi, mặc dù họ có thể từ chối. Đúng là một lũ phản phúc”. Đến lượt uỷ viên chính phủ, thiếu tá Đức lên tiếng buộc tội can phạm, không dựa vào tài liệu, mà chỉ dựa vào nhân chứng, lý luận hùng hồn ba tiếng đồng hồ, rồi kết luận xin toà tuyên phán tử hình.

Buổi chiều toà tái nhóm và luật sư Quan đứng lên biện hộ cho ông Cẩn. Bên ngoài toà án, tuy chưa xử, đã có nhiều người nhất quyết đòi cho được bản án tử hình; còn trong toà, công tố viện buộc tội nặng nề; bên cạnh bị cáo chỉ có tôi, mình tôi, nhưng tôi quyết định nói tất cả những gì mà tôi và ông Cẩn muốn nói đối với cái màn chính trị chi phối công lý, đối với những người đã từng bợ đỡ nhờ vã ông, nay phản bội ông. Hậu quả có ra sao thì ra. Luật sư Quan hỏi: Ngô Đình Cẩn ông là ai, một lãnh chúa Miền Trung quyền uy tuyệt đối hay chỉ là một ông từ có công giữ chùa cúng Phật, có công thay thế các người anh, hiếu thảo phụng dưỡng mẹ già, nhưng không có ăn học cao, nên chỉ được phong cho cái hư vị mà không có quyền hành cụ thể gì cả. Ðiều rõ ràng là trong anh em ông Diệm, ông Cẩn là người ít học hơn hết, tuy mang chức cố vấn như ông Nhu, nhưng làm sao so với ông Nhu được, một người tốt nghiệp đại học ở Pháp, lão luyện trong hoạt động chính trị, còn ông Cẩn học chưa hết trung học, chỉ ru rú trong căn nhà của gia đình tại Phú Cam, phụng dưỡng mẹ già để các anh rảnh tay lo việc nước.

Ông uỷ viên chính phủ khẳng định : bị can ra lệnh cho công an tống tiền thủ tiêu các nạn nhân, nhưng trong hồ sơ, không có công văn nào trao quyền cho ông Cẩn chỉ huy bộ máy tư pháp, an ninh để có thể ra lệnh cho cấp dưới thi hành. Không có văn bản cụ thể, khách quan mà chỉ dựa vào nhân chứng. Nhân chứng là ai? Đó là những người tráo trở lật lọng, họ đã khúm núm xưng con với người chế độ cũ, nịnh hót xin xỏ ân huệ, làm sao tin vào lời nói của họ được?. Trong căn phòng xử này, mỗi lần chạm phải cái nhìn hờn trách của ông Cẩn, họ đã hổ thẹn ngó đi chỗ khác. Điều đáng buồn cho xứ sở này là còn có nhiều người tai to mặt lớn trong giới quân sự, dân sự, có hành động bỏ suy phù thịnh như họ. Rút cục, chỉ có lời khai suông của những người được gọi là nhân chứng. Họ là ai, động cơ nào thúc đẩy họ ra đây kể tội, buộc tội ông Cẩn. Vậy căn cứ vào hồ sơ không có bằng cớ rõ rệt, kính xin toà tuyên xử tha bổng cho bị can.

Trước khi vô phòng luận án, Toà đề nghị cho ông Cẩn nói lời chót. Ông điềm nhiên chậm rãi nói mình vô tội, không có quyền hành để ra lệnh cho công an. Nhưng ông không van xin cầu khẩn gì hết. Ông biết luật chơi tàn nhẫn của chính trị và ông điềm tĩnh chấp nhận, mặc dầu đối tượng của cuộc chơi chính là sinh mạng của mình. Toà trở ra tuyên xử tử hình. Luật sư Quan làm đơn xin ân xá đưa ông Cẩn ký vào.

Một hôm sau, luật sư được toà án cho biết đơn xin ân xá bị bác và cuộc hành quyết sẽ diễn ra buổi chiều. Luật sư vào thăm ông Cẩn, ông tiết lộ một số bí mật như là những lời trăn trối. Ông thuật lại ngày ông Ngô Đình Khôi và người con trai bị Việt Minh đến nhà bắt đem đi sát hại, ông ở phía sau nhà, VM kiếm không ra nên không bị bắt. Về đường lối chính trị, ông nhắc lại những pha sắt máu ông đối phó với Việt Cộng, ông khẳng định phải thẳng tay với họ, cũng như họ đã sát hại phe quốc gia không chút nương tay. Lúc nói như vậy, mắt ông sáng long lanh, mặt đỏ rần, mạnh dạn gằn từng tiếng, nói tới cao trào cách mạng là phải đổ máu. Ông biết tôi là người theo đạo Phật, nên ông thanh minh: người ta đã vu oan cho ông là đàn áp Phật giáo. Trái lại chính ông đã cố gắng ngăn cản những kỳ thị tôn giáo tại Miền Trung, nhưng hai ông Diệm, Nhu không chịu nghe lời ông, mà lại làm theo lời xúi bậy của ông Thục nên thảm kịch mới xảy ra.

Ông Cẩn im lặng nghe đọc bản án bác đơn xin ân xá. Quá cảm động tôi chỉ biết nói câu an ủi tầm thường: “Thôi ông cố vấn đừng quá đau buồn. Trên cõi đời này sớm hay muộn rốt lại ai cũng phải ra đi”. Ông nhìn tôi điềm tĩnh nói: Luật sư đừng có buồn cho tôi. Tôi đi theo mấy ông anh của tôi. Tôi trở về với Chúa. Tôi không sợ chết đâu, nhưng tôi lo cho luật sư; Luật sư đụng chạm tới họ không biết luật sư ở lại, có bị họ làm khó dễ hay không”. Tôi ứa nước mắt, nói không sao đâu ông cố vấn đừng lo cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được vào nước Chúa. Khi ông Cẩn bước vào chỗ hành quyết, tay bị trói chặt vào cột. Có một người cai ngục trẻ tuổi, mặt mày hiền lành bước tới nói với ông Cẩn, giọng thành khẩn: Thưa ông tên thánh của con là Phêrô. Ông lên tới nước Chúa, xin ông cầu nguyện cho con. Ông Cẩn lặng thinh nhè nhẹ gật đầu. Người lính đem khăn vải đen bịt mắt ông. Tới lúc đó ông không còn giữ im lặng, lắc đầu nói lớn, tôi không chịu bịt mắt đâu, tôi không sợ chết, nhưng người ta vẫn buộc. Bị bịt mắt ông Cẩn vẫn lên tiếng phản đối vùng vẫy cái đầu. Một tiếng hô, một loạt súng nổ. Đạn bắn mạnh vào làm cho thân hình người tử tội bật ngược lên, dãy nãy rồi rũ xuống như một người máy bị đứt dây thiều. Viên sĩ quan chỉ huy đội hành quyết bước tới cọc, lạnh lùng bắn phát đạn ân huệ. Đầu ông Cẩn dãy lên rồi gục xuống. Hoàng hôn chụp xuống ảm đạm tang tóc.

Luật sư kể tiếp: tối hôm xử bắn ông đã uống thuốc để cố gắng tìm giấc ngủ, vẫn trằn trọc thao thức suốt đêm vì bao hình ảnh vụ án cứ dồn dập quay cuồng trong tâm trí và ông nhận ra tình cảm của ông đối với bị cáo đã thay đổi: Lúc đấu ác cảm phẩn nộ, đến khâm phục và thương tâm. Nhiều năm sau, luật sư Quan gặp lại bà Trần Trung Dung định cư ở Orlando Florida cùng chỗ với ông, hai người trở thành bạn thân. Bà Dung nhắc lại chuyện xưa, tường thuật rõ ràng hơn lúc còn ở quê nhà. Bà kể tên những người trong cuộc, thuật lại những sách nhiễu tiền bạc bỉ ổi, những thủ đoạn lường gạt gian manh đằng sau vụ án Ngô Đình Cẩn.

Kết luận, ông suy nghĩ về cái nghề của mình, nhiều khi đã tưởng là cái nghiệp, nhưng cơ may giúp ông có một nhân sinh quan sâu rộng hơn để ông nhận thức ai cũng là một điểm linh quang của Thựơng đế, chỉ khác nhau ở chỗ linh quang đó bị lu mờ ít hay nhiều do dục vọng cá nhân. Nhân sinh quan đó làm giảm bớt tham sân si trong tôi, đưa tôi tới sự an lạc trong tâm hồn. Sự hiểu biết về thiền, cũng cho ông luật sư thấy tất cả mọi người, đúng theo giáo lý « trùng trùng duyên khởi » của đức Phật, đều có mối tương quan mật thiết với nhau, đều là bạn đồng hành trong đại trùng dương của đời sống muôn loài vạn vật và trong cả hai nhân sinh quan kể trên, ông nhận thấy luật sư là một cái nghề tuyệt vời không còn phải là cái nghiệp cay đắng nữa.

Trong tập hồi ký này, luật sư Quan còn cãi cho bác sĩ Nguyễn Văn Mẩn thị trưởng Đà Nẵng, dính liú vào các vụ biến động Miền Trung, theo yêu cầu của thượng toạ Trí Quang. Bài tường thuật này cho thấy rõ toà án thời đó chỉ là một công cụ chính trị của mấy tướng lãnh hoạt đầu, và khuôn mặt phong cách của thượng toạ Trí Quang. Luật sư Quan không có thiện cảm với đường lối bạo động hỗn loạn dưới chiêu bài tôn giáo, nên lấy cớ luật sư đoàn không cho phép tới nhà thân chủ lãnh công việc, vì luật sư nghĩ rằng Trí Quang là một người cao ngạo, quen thấy nhiều nhân vật chạy theo phò tá chắc không chịu đến văn phòng. Luật sư cũng nhắn với thượng toạ sẽ đặt vấn đề thù lao vì không có hậu ý lập công để mong cơ hội tiến thân trên đường chính trị. Không ngờ Trí Quang đến văn phòng luật sư và nói rõ sỡ dĩ nhờ luật sư là vì bác sĩ Mẩn là người Công Giáo và biết luật sư dù là người Phật Giáo vẫn tận tâm mạnh dạn cãi cho ông Cẩn là người công giáo. Khi vào khám Chí Hoà gặp bác sĩ Mẩn, luật sư đề nghị ông viết một tường trình đầy đủ để luật sư sử dụng. Bác sĩ Mẩn dè dặt, trả lời để hỏi ý kiến thầy đã. Mấy hôm sau luật sư nhận được lá thư của Trí Quang vắn tắt chỉ có mấy chữ: “Anh Mẩn làm memoire đi. Ông già.” Nét chữ cứng rắn như cái mệnh lệnh. Ngoài ra Trí Quang nhờ luật sư đưa một thư của ông cho ông chánh thẩm. Trước toà, luật sư đọc văn thư đó. Trong thư, Trí Quang tuyên bố sẵn sàng ra toà khai rõ về những việc xảy ra tại Miền Trung và đảm nhận tất cả trách nhiệm vì chính ông lãnh đạo cuộc tranh đấu đó, dĩ nhiên toà không mời Trí Quang ra làm chứng, để ông không dùng phiên toà làm diễn đàn chính trị. Còn truy tố ông, nếu họ dám thì đã làm từ lâu.

Trong phiên toà luật sư Quan biện luận, những bị can tranh đấu đòi thành lập quốc hội lập hiến; Quốc hội này thảo luận hiến pháp làm nền tảng pháp lý cho các cơ quan lãnh đạo quốc gia, không ai có thể bảo đòi hỏi ấy không chính đáng, chỉ có những kẻ lẫn tránh không đáp ứng đòi hỏi đó mới là bất chánh. Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, ít ra còn có hình thức dân chủ, sau chế độ đó, người ta thấy những gì: Từ ba năm nay, ngoài cái quái thai gọi là Hiến chương Vũng Tàu, bị bãi bỏ, không có gì hết, chỉ có những quân nhân cao cấp lên nắm quyền đưa ra nhiều danh xưng cách mạng, chỉnh lý đảo chánh, biểu dương lực lượng … cho nên những người tranh đấu không còn con đường nào khác là bạo động. Đó không phải là cái tội. Nếu đó là tội tại sao thượng toạ Trí Quang người lãnh đạo cuộc tranh đấu đó xác nhận trước toà mình chịu trách nhiệm lại không bị truy tố. Người lãnh đạo chủ mưu không bị truy tố, tại sao những người chỉ đi theo sự lãnh đạo đó lại bị truy tố, nên xin toà tha bổng các bị can. Bác sĩ Mẩn đựơc trả tự do, Thượng toạ Trí Quang gửi thiệp xin hết lòng cảm tạ như tấm thiệp của ông Cẩn và mời khi nào rảnh ghé thăm cảnh chùa Ấn Quang. Trong buổi gặp gỡ luật sư Quan thuật lại: Trí Quang đã than phiền người ta đồn ông thân cộng và chống Mỹ, ông nói chủ đích của ông là bảo tồn văn hoá, nề nếp cổ truyền của xứ sở để không bị cộng sản vô thần huỷ diệt và văn minh vật chất của Mỹ làm cho bại hoại.

Đó là lần thứ 2 và lần cuối cùng luật su gặp TT Trí Quang: “Tôi không biết con người khó hiểu đó là Việt Cộng nằm vùng hay thân cộng”.

IV. Số bạc nhiều triệu đô la?

Trong phần cuối tập hồi ký của luật sư Quan liên quan đến ông Cẩn, có đoạn: «Người viết được linh mục tuyên uý của ông Cẩn cho biết, trước mặt mọi người ngài đã hỏi ông Cẩn 2 lần: Cậu có tha thứ cho những người đã làm khổ cậu và gia đình cậu không? Cả 2 lần ông Cẩn đều nói lớn và rõ ràng: Con tha thứ.

Nhưng có một đoạn khác không thuộc niềm tin tôn giáo mà liên quan tới tiền bạc, như sau: «ông Cẩn và tôi trò chuyện đã hơn 2 tiếng đồng hồ, mấy người nhân viên công an đứng mỏi chân và không còn chú ý nữa, họ kéo nhau ra ngoài xa ngồi hút thuốc, nói chuyện kháo. Thừa dịp đó, ông Cẩn tiết lộ với tôi một bí mật ông giữ kín từ truớc. ông cho biết rằng bà Trần Trung Dung có thuật lại với ông là trước khi ông bị đem ra xét xử, “người ta” ông vẫn còn dấu không tiết lộ đích danh, hứa nếu ông bằng lòng chuyển cho “người ta” mấy triệu đô la trong trương mục của ông ta tại Thụy Sĩ, ông sẽ được phi cơ lén đưa qua Singapore sống tự do. Nhưng ông ta biết người đó là kẻ lật lọng, nếu ông lầm tin, chuyển tiền cho họ thì sẽ bị cảnh tiền mất tật còn, nên ông kiên quyết từ chối. Về sau nhân dịp một linh mục tới khám Chí Hoà cùng với ông làm lễ, ông ký giấy uỷ quyền cho dòng tu Linh mục ấy lãnh số tiền kể trên. Tờ uỷ quyền được dấu trong một cuốn kinh sách của vị linh mục. Ông tâm sự, tôi thà dâng cho Chúa chứ không chịu làm giàu thêm cho họ”, ông không nói và tôi cũng không hỏi danh tánh và dòng tu của vi linh mục ấy. Về sau tôi cũng không tìm hiểu xem việc chuyển tiền đó có thật hay không. Điều đó không liên quan gì đến nhiệm vụ của tôi”.

Trong hồi ký của tướng Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng (1989), có chỗ ghi: "Năm 1960 ông Cẩn khoe với tôi là đã có gần 6 triệu đô la gởi ở ngân hàng Thụy Sĩ (trang 159)…. Hai tháng sau ngày chỉnh lý ông Khánh phái ông Lâm Văn Phát liên lạc qua bà Trần Trung Dung vào khám nói với ông Cẩn chuyển số tiền 6 triệu Mỹ kim ông Cẩn có trong ngân hàng Thụy Sĩ qua cho ông Khánh, đổi lại ông Khánh sẽ cho một chiếc phi cơ Dakota đưa ông Cẩn đi Singapore sống tự do. Bà Trần Trung Dung yêu cầu đừng thâu băng khi bà ấy vào khám hỏi ý ông Cẩn. Sau khi nghe bà Dung trình bày, ông Cẩn không chịu giao tiền đó cho ông Khánh. Ông hỏi bà Dung có cần lấy thì ông giao. Lúc đó bà Dung sợ liên lụy nên không dám nhận. Mấy hôm sau, nhân dịp một vị linh mục ra vô làm lễ cho Ông Cẩn, ông Cẩn ký giấy uỷ quyền cho dòng chúa cứu thế số tiền đó. Trong cuốn kinh sách một giấy uỷ quyền để sẵn cho ông Cẩn ký tên tặng mấy triệu Mỹ kim. Sau đó ông Cẩn bị tuyên án tử hình (trang 248-249). Như vậy sự kiện ông Cẩn có tiền hàng triệu gởi ngân hàng Thụy Sĩ là điều có thể tin được, vì chính ông Cẩn đã nói với luật sư Quan “mấy triệu” và trước đó với tướng Đôn “6 triệu”, ông Cẩn không trao cho ông Khánh, mà trao cho tuyên úy dòng Cứu thế. Nhưng việc trao tiền về phương diện nghiệp vụ của ngân hàng, lãnh một số tiền lớn mà chỉ căn cứ vào một mảnh giấy viết tay nghệch ngoạc rồi ký tên thật rất khó tin. Dù sao linh mục Thi dòng chúa cứu thế là người trực tiếp liên quan đến vụ này, rất mong linh mục lên tiếng công khai.

V. Tổng kết nội vụ Phật Gíáo và Đại Học của Lê Dư

Tác giả là trưởng ty cảnh sát Quốc Gia Thừa Thiên, một người được nhắc đến nhiều trong tập hồi ký của nhóm cựu tù của ĐCTĐBMT. Sau 75, đi học tập ngoài bắc nhiều năm được thả về và hiện nay ở Mỹ theo diện HO. Bản tôi có là bản đánh máy, nhiều trang đọc không rõ. Tuy nhiên mỗi trang đều có đóng dấu đỏ chót của cơ quan, do Tạ Chí Đại Trường đưa cho tôi ở Sài Gòn sau 75. Bản tổng kết về gỉai trình 6 can phạm trong nội vụ Phật Giáo và đại học, can tội phá rối an ninh Quốc Gia. Sáu can nhân: Lê Khắc Quyến, Võ Như Nguyện, Lê Tuyên, Hoàng Văn Giàu, Võ Văn Thơ (thuộc đại học) và Thích Trí Thủ, kèm theo hồ sơ cá nhân của họ được kính chuyển, trong phần sơ lược diễn tiến vụ Phật Giáo từ đầu đến cuối là 36 trang, có mấy điểm nổi bật.

1. Vai trò sách động của Trí Quang với những câu nói: “Lấy tư cách hội trưởng Phật Giáo Trung phần, tôi ra lệnh các đạo hữu từ nay cứ treo cờ Phật Giáo tại các chùa khuôn cũng như tại tư gia, đó là lệnh của tôi, tôi xin gánh lấy trách nhiệm và hậu quả trước chính quyền”... “Đã đến lúc phật tử chúng ta phải tranh đấu, dù cho cần đến sự hi sinh nào chúng ta cũng không từ chối; Kể từ giờ phút này Phật tử chỉ theo lệnh của tôi mà thôi”.

2. Sự can thiệp công khai của các viên chức nhà báo Mỹ xúi giục lật đổ chế độ, làm nhiệm vụ phổ biến tin vào Sài Gòn và nước ngoài.

3. Sự tham gia của giới đại học gồm một số giáo sư và sinh viên phật tử, sự tham gia này càng sôi nổi sau khi linh mục Cao Văn Luận bị cách chức viện trưởng và sự cách chức này đã trở thành một cớ rất thuận lợi đẩy mạnh phong trào chống chính phủ vì một trong những mục tiêu tranh đấu là đòi phục chức Viện trưởng cũ, không thừa nhận Viện trưởng mới, các giáo sư từ chức viết kháng thư phản đối. Theo nhân chứng số 42 (xem báo cáo của Phái Đoàn LHQ) có 3 điểm được nêu lên trong kháng thư: Chính phủ lấy tài sản của chùa không giải quyết tích cực vụ Phật Giáo và cách chức Viện trưởng. Lý do thứ 3 được đặc biệt nhấn mạnh, nhưng tại chùa Từ Đàm người ta bỏ đều phản đối lý do thứ 3 .

4. Bản tuờng trình về toan tính tổ chức các vụ tự thiêu tương tự lời phát biểu của nhân chứng ở Sài Gòn, xem báo cáo của PĐLHQ cho thấy tất cả đếu chỉ nhằm mục đích tạo dư luận biện minh cho việc lật đổ chính phủ.

5. Không hề thấy một toan tính nào của cộng sản xúi giục tăng ni chống chính phủ trong bản tường trình của một người chuyên môn lùng bắt cộng sản thuộc ĐCTĐBMT. [3]

Khi quân đội của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ ra Ðà Nẵng và Huế đánh dẹp thì các cán bộ nằm vùng đã lẩn tránh hết, chỉ còn lại những Phật tử thường không có ai lãnh đạo vào chùa ẩn náu rồi sau đó ra hàng mà thôi.

Điều đáng lưu ý là Thượng toạ Trí Quang ra lệnh cứ treo cờ và ai nấy cứ theo lệnh của mình, có lẽ Thượng toạ Trí Quang ăn nói như vậy là vì được ông Cẩn hoàn toàn ủng hộ. Sự kiện kháng thư của sinh viên điểm 3 đòi phục chức cho Viện trưởng đã bị chùa Từ Đàm xoá bỏ, cho thấy mục tiêu tranh đấu chỉ mượn vụ cách chức để chống chính phủ. Sau đảo chính tôi ra Huế dự buổi đại học Huế long trọng đón linh mục Luận về Huế; Tôi lên chùa Từ Đàm thăm thầy Trí Quang, sau đó, trong khi lái xe đưa tôi về Viện Ðại học, thầy Trí Quang nói với tôi, anh nhắn linh mục Luận rút lui đi; tôi nói lại với linh mục Luận, ông không tin, vì cho rằng nhóm Lê Khắc Quyến, Lê Tuyên... vẫn kính nể và cần ông. Chỉ khi ông vắng mặt ở Sài Gòn, nhóm Lê Khắc Quyến, Lê Tuyên... mới truất phế ông; Tôi đang ở gần ông. Nghe tin đó ông buồn và chỉ nói «họ không dám làm như vậy trước mặt tôi». Linh mục Cao Văn Luận lúc ở Sài Gòn đã không đọc được trên tờ Lập Trương những điều mà cái gọi là Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng do bác sĩ Lê Khắc Quyến cầm đầu, đã nói về cha «con quạ đen đeo kính trắng», nên không ngờ đến sự phản phúc của nhóm người mà linh mục đã từng ưu ái.

VI.Vi phạm nhân quyền tại miền Nam. Bản báo cáo của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ đàn áp Phật Giáo 1963

Tài liệu này do Võ Đình Cường dịch bản tiếng anh, Thượng toạ Trí Quang đề tựa, Hùng Khanh xuất bản 1966. Tài liệu này có nói đến phái đoàn ra Huế, hội kiến với đại biểu chính phủ, tướng chỉ huy Quân đoàn 1 mà không gặp ông cố vấn Miền Trung như đã gặp ông Ngô Đình Nhu cố vấn Tổng thống và cũng không có chỗ nào trong bản báo cáo nhắc đến ông Cẩn như thể không có ông. Lý do như thế nào?

1. Báo cáo của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc

Việc vận động Liên Hiệp Quốc gởi một phái đoàn mà nhân viên đều thuộc các nước Á châu Phật Giáo sang VN điều tra vi phạm nhân quyền trong vụ Phật Giáo 1963 hẳn nằm trong kế hoạch chứng minh là Phật giáo có dự định lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm.

Chế độ ông Diệm xuất hiện trước dư luận thế giới như một bị cáo. Nhưng chính phủ Diệm đã dành thế chủ động, đưa ra lời mời LHQ gởi phái đoàn đến VN xem xét tại chỗ những vu cáo và dành mọi sự dễ dãi cho phái đoàn đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai, kể cả những người đang bị chính phủ giam giữ, trừ Thượng toạ Trí Quang ẩn náu trong toà Ðại sứ Mỹ. Phái đoàn gặp một số nhân vật hàng đầu của chính phủ : ông Diệm, ông Nhu, ông Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, ông Bùi Văn Lương bộ trưởng nội vụ … Đáng lưu ý hơn cả là phát biểu của ông Nhu, người thật sự nắm quyền đối phó với vụ khủng hoảng Phật giáo.

Lời phát biểu của ông Nhu, khác hẳn tất cả các phát biểu của các nhân vật khác, vì lối nhìn vượt thời sự, dẫn người nghe vào một phân tách lịch sử, xã hội học, nhằm giải thích những biến cố thời sự hiện tại. Theo ông Nhu, đối với VN cũng như nhiều xứ khác cùng hoàn cảnh, vấn đề căn bản là vấn đề chậm tiến và Phật Giáo chỉ là một khía cạnh của vấn đề căn bản kể trên. Những phong trào chính trị xã hội tôn giáo phát triển mạnh sau khi xứ sở thu hồi đựơc độc lập, nhưng cán bộ lại thiếu trong các phong trào ấy, cũng như trong guồng máy chính phủ. Chính phủ buộc phải nhờ chuyên viên nước ngoài trong mọi lãnh vực và vì họ đều có chủ đích riêng, nên sự hiện diện của họ đem lại cái lợi và cái bất lợi; Đó là động lực tạo ra những tranh chấp. Phong trào Phật Giáo cũng ở trong tình trạng kể trên. Phong trào phát triển mạnh, nhưng thiếu cán bộ, nên có nhiều sai lệch không thể tránh khỏi.

Ông trưởng phái đoàn: - Vấn đề Phật Giáo là vấn đề chậm tiến, như vậy Phật Giáo phát triển không bằng các cộng đồng khác.

Ông Nhu: - Vấn đề Phật Giáo bắt nguồn từ trước Đệ Nhị Thế Chiến và đặc biệt từ những ngày tàn của thực dân; Nhưng sự phục hưng Phật Giáo không đóng vai trò quan trọng lắm, vì những lý do riêng biệt của đạo Phật. Tinh thần tự trị của chùa chiền, mỗi vị sư trụ trì và tín hữu tạo nên một cộng đoàn độc lập. Giáo lý và việc tu trì mang màu sắc cá nhân là việc riêng của mỗi người. Nhưng mong ước phát triển lãnh đạo, lòng tha thiết với thế tục, cụ thể hoá là nhu cầu kỹ nghệ hoá. Phát triển cũng đòi hỏi tranh đấu chính trị để giữ gìn độc lập, hoặc chống lại những mưu toan của ngoại bang can thiệp chi phối nội tình VN theo quyền lợi của họ. Các phong trào chính trị xã hội tôn giáo, không riêng gì Phật Giáo, đều chia sẻ những khát vọng chung và đều bị lôi kéo giữa cộng sản và đế quốc, giữa Ðông và Tây. Tình hình hiện tại chẳng qua vẫn là một tiếp nối tình hình chung trong quá khứ ở trên. Đó là lối nhìn theo xã hội học và lịch sử. Nhìn vào hiện tại, chính phủ đứng ngoài các tôn giáo, nhưng phải đương đầu với cuộc chiến tranh do cộng sản gây ra và với những áp lực do chủ nghĩa ngoại lai mà vì một nhu cầu lịch sử Việt Nam phải chấp nhận sự có mặt viện trợ từ bên ngoài. Trong tất cả các tổ chức, đều có công tác ngấm ngầm do bàn tay Ðông hoặc Tây điều khiển; cho đến cả trong cơ quan hành chánh và quân đội cũng có sự len lỏi của chủ nghĩa ngoại lai. Viện trợ Hoa Kỳ rất quí báu đối với chúng tôi, nhưng lại chứa mầm mống phân hoá. Phật tử cũng ở trong tình trạng bối rối như tín đồ các tôn giáo khác. Do đó cần phải tìm một lối thoát ra khỏi tình trạng kể trên.

Phật giáo có nhiều xu hướng; Xu hướng của Phật Giáo Miền Nam không lưu tâm nhiều đến những vấn đề thế tục, nên không có những đụng chạm về chính trị. Nhưng xu hướng Phật Giáo Bắc di cư và Miền Trung lưu tâm nhiều đến dự định trở thành một lực lượng chính trị, vì thế dễ bị lạc hướng, trở thành một công cụ chính trị tới mức muốn lật đổ chế độ dựa vào luận điểm Phật Giáo bị chèn ép kỳ thị bạc đãi so với các tôn giáo khác phát triển mạnh hơn mình. Đặc biệt, trước một âm mưu thâm độc của cộng sản ở Miền Trung, họ đưa toàn xã vào Thiên Chúa giáo, coi như một hình thức xâm nhập lũng đoạn. Tín đồ Phật Giáo thấy nhiều xã theo Công Giáo, lại cho đó là chủ trương của chính phủ. Chính phủ rất lo lắng về hiện tượng trở lại đạo Công Giáo hàng loạt như thế và lực lượng an ninh phải canh chừng những xã đó nhiều hơn các xã khác.

Về vụ di cư vào Nam, nhiều người Phật Giáo cho rằng vì Tổng thống là Công Giáo nên chỉ lo cho người Công Giáo di cư, trong khi thực ra đây là tổ chức nội bộ của các tôn giáo. Ai cũng thấy trên bình diện thế tục, Công Giáo có tổ chức chặt chẽ hơn, nên có trường hợp cả giáo khu được tập hợp, được điều động di cư vào Nam. Trong khi Phật tử thì rời rạc, tản mác, không được tổ chức. Vị bộ trưởng của chính phủ Diệm phụ trách di cư, chống lại phong trào di cư, vì cho rằng về phương diện chính trị, tốt hơn là để họ ở lại miền Bắc, vì họ là lực lượng chống cộng sản, nếu đưa vào Nam mà không làm vừa lòng họ, họ sẽ biến thành lực lượng chống chính phủ. Đó là điều làm cho Phật tử nghĩ rằng chính phủ ưu đãi người công giáo.

Trên đây, là lược tóm mấy ý tưởng chính trong lời phát biểu của ông Nhu. Phần cuối, ông nói về thái độ của ông, tuy theo đạo Công Giáo nhưng ông chống «giáo sĩ trị», một thái độ ông tiếp thu đuợc trong thời kỳ du học Âu châu mà hầu hết trí thức VN kể cả tu sĩ Công Giáo đều có thái độ như vậy. Sau cùng, ông bày tỏ mối thiện cảm với Phật Giáo dựa vào những kỷ niệm tốt đẹp thời niên thiếu hay đi chùa để hưỡng không khí thanh tịnh của cảnh chùa.

Phần II : Phái đoàn LHQ thẩm vấn các nhân chứng được chia thành ba nhóm:
- Sư sãi bị giam giữ,
- Những nguời được phái đoàn mời đến gặp
- và những người tự ý đến gặp phái đoàn.

Trong nhóm nhân chứng thứ nhất, nhiều người đều khai chính vụ nổ sát hại ở đài phát thanh Huế đã châm ngòi cho phong trào chống đối chính phủ bắt đầu ở Huế rồi tràn vào Sài Gòn. Trước 1963, ít nhân chứng nói đến hiện tượng kỳ thị đàn áp, mà chỉ nhấn mạnh vào những ưu đãi thiên vị thì có. Đặc biệt có nhân chứng số tám, một chú tiểu tu ở Ấn Quang kể cho phái đoàn biết chú đã được dụ dỗ tham gia vào một nhóm mười người sẽ đuợc tổ chức tự thiêu vào ngày Quốc khánh, có sự hiện diện của phái đoàn Liên Hiệp Quốc. Chú thắc mắc làm sao có thể vào khu vực cấm, thì được trả lời người phụ trách các vụ tự thiêu có những bố trí thích đáng. Chú sẽ nhận đựợc một bộ đồ trắng, một áo cà sa vàng có tẩm xăng, sẽ có tài xế lái xe đưa chú vào khu vực cấm. Đến nơi chú xuống xe mặc áo cà sa có tẩm xăng, quẹt diêm châm lửa đốt. Trước đó người ta sẽ cho chú mấy viên thuốc uống không còn biết đau. Một buổi sáng, người thanh niên dụ dỗ chú đến chùa trao cho chú 3 bức thư, gửi tổng thống VNCH, gửi thượng toạ Thích Thiện Hoà trụ trì Ấn Quang và gửi Phái Ðoàn Liên Hiệp Quốc, bảo chú ký tên vào 3 bức thư đã soạn sẵn, dặn chú tối 25/10 sẽ đưa chú đến một địa điểm bí mật, để sáng sớm 26/10 đưa chú đến nơi hành lễ, nhưng rủi thay, cảnh sát đến bắt tôi trước khi người thanh niên đến chùa tìm tôi. Trong thời gian bị giam, tôi được giải thích về những bịa đặt lừa bịp, tôi nên tôi không còn ý định tự thiêu nữa.

Trong số những nhân chứng được phái đoàn mời hay tự ý đến, có người tố cáo chính phủ kỳ thị, đàn áp, có người nói ngược lại. Xét về trình độ nhận thức của các nhân chứng, có một chênh lệch rõ rệt giữa các nhân chứng, những nhân chứng không nhìn nhận có kỳ thị đàn áp thuộc thành phần trí thức, bác sĩ, giáo sư, có lý luận phân tách và đưa ra bằng cớ như nhân chứng số 36: Cả gia đình tôi theo Phật giáo, tôi làm việc cho một hãng Hoa Kỳ không làm cho chính phủ. Là người theo Phật Giáo tôi chỉ nói điều gì có lợi cho Phật giáo. Tôi muốn ông biết tôi không đến đây để ủng hộ chính phủ, tôi đến đây với tư cách công dân và muốn phái đoàn biết rõ sự thật: Các cuộc biểu tình tự thiêu đều do cộng sản xúi giục vì Việt Cộng không thể lợi dụng dân chúng được, họ quay về các nhà tu hành, lợi dụng họ chống chính phủ, nhưng các Phật tử không ý thức được Việt Cộng ủng hộ họ, chỉ để lợi dụng phong trào của họ. Tôi cũng được mời và khuyến khích tham dự biểu tình, đôi khi với sự doạ nạt. Nhiều nguời làm việc cho Hoa Kỳ cũng bị áp lực như thế. Có những người xúi dục đi biểu tình cũng làm việc cho các hãng Hoa Kỳ nhưng họ không bị bắt.

Nhân chứng số 38, một bà sống ở Huế chứng kiến các vụ lộn xộn sảy ra ở đó: Tôi có dự lễ ở chùa Từ Đàm, Thầy Trí Quang đã giải thích những biểu ngữ chống chính phủ và đòi phải phát thanh ghi những lời nói của thượng toạ. Ai cũng có thể làm nhà sư, nên có sư thật, sư giả. Vậy có thể có những người trá hình, tôi dám nói các nhà sư quá khích nhất chính là cộng sản, và những nhà sư thật không thể có những hành động bạo lực ganh tị. Tổng thống Diệm là người theo đạo Thiên chúa nhưng có thái độ khoan dung đối với các tôn giáo. Trong trại lính, có những chùa bên cạnh các nhà thờ.

Nhân chứng số 39: Tôi là bác sĩ theo Phật Giáo từ khi ở Pháp về, là bác sĩ chính thức của hầu hết ni cô, nhà sư Sài Gòn, tôi đã làm trung gian giữa Tổng thống Diệm và các Phật tử khi cần thiết, như tham dự những buổi hội kiến giữa tổng thống Diệm và các nhà lãnh đạo Phật Giáo trước biến cố 8/5. Chính phủ ban hành tình trạng giới nghiêm vì phong trào sinh viên và các cuộc biểu tình; Chính phủ đã không làm việc đó, nếu không lo sợ một thảm hoạ sẽ xảy ra. Tôi có những tiếp xúc trực tiếp với Tổng thống. Tôi có thể nói dù Tổng thống theo Thiên chúa giáo, TT không gần Thiên chúa giáo bằng Phật giáo, TT hiểu rõ các Phật sự. Một vài xu hướng tinh thần của TT lại đượm màu sắc Phật Giáo hơn Thiên chúa giáo. Nếu các kết luận của cuộc điều tra là có sự kỳ thị về phía chính phủ đối với Phật giáo, thì ý kiến của tôi là TT không theo một đường lối kỳ thị đối với Phật giáo.

Trong bài phát biểu cuả ông Nhu, những từ ngoại lai, chủ nghĩa đế quốc, trong tình thế lúc đó phải hiểu ông Nhu ám chỉ Hoa kỳ. Bài phát biểu này cũng là lời nhắn mang tính cách thách thức Hoa Kỳ để HK biết ông đã tìm ra một lối thoát mâu thuẫn cộng sản - đế quốc. Đường lối này không được nói ra trong bài phát biểu, nhưng được nói ra trong các buổi đàm luận với ông Manelli đại sứ Balan thuộc UHQTKSĐC. Ông này sau đó đã kể lại những vận động Pháp, Ý, Ấn Độ, Hà Nội để thực hiện một đối thoại trực tiếp giữa Hà Nội và Sài Gòn trong cuốn: War of the vanquished và nội dung những buổi gặp ông Nhu; Ông Nhu cho biết lập trường chống tư bản về xã hội và theo trung lập về chính trị, tán thành hợp tác với miền Bắc: "Tôi không chống lại việc thưong thuyết và hợp tác với miền Bắc. Ngay trong những cuộc chiếu đấu ác liệt nhất, người Việt Nam không bao giờ quên rằng ai là người Việt, ai là nguời ngoại quốc. Nếu chúng tôi có thể mở một cuộc đối thoại trực tiếp thì có thể tiến tới hoà giải”. Trước khi gặp Manelli hay sau đó, ông Nhu đã có những tiếp xúc mật với ông Phạm Hùng và ông đã tiết lộ với tướng lãnh. Họ mượn cớ đó để lật đổ ông Diệm. Nội dung những tiếp xúc này cho đến nay vẫn chưa tiết lộ.

Sau 1963, người Mỹ thực hiện việc giảm bớt hay xoá bỏ tình trạng chậm tiến trong phong trào Phật Giáo như ông Nhu đã phân tách. Một bản báo cáo nhan đề: Phụ lục 6, tối mật, quỹ Asian Foundation, số VSK416 ngày 25/10/65 Kính gửi ông chủ tịch, lưu ý ông giám đốc phân bộ Ðông Nam Á về phong trào Phật Giáo ở VN. Tài liệu này không rõ tại sao bị tiết lộ, do hai người Mỹ đại diện Quakers American Friend Service Committee là Michael và Diane Jone gửi cho Tổng hội sinh viên Sài Gòn, Võ Hồng Ngự dịch. Trong bản báo cáo 10 trang này, ông Frank Dines, nhận định Phật Giáo đã đảm nhận một vai trò chính trị xã hội nên có thể biến Phật Giáo thành một lực lượng có ưu thế trong vòng một vài năm. Theo lối nhìn đó, Ðại học Vạn Hạnh có mục đích huấn luyện giới lãnh đạo tương lai Phật Giáo tại chỗ, và Hoa Kỳ thực hịên chính sách cấp học bổng cho tăng ni du học ở Hoa Kỳ vì trong số 20 ngàn tăng ni ở Việt Nam chưa đầy 20 người học ở nước ngoài và không quá 30 người đỗ cử nhân ở Việt Nam. Những người này chỉ trong một thời gian ngắn sẽ về nước giữ những vị trí quan trọng ở Viện hoá đạo, Ðại học Vạn Hạnh và nhiều chùa khác. Họ sẽ trở thành những diễn giả chính yếu của Hoa Kỳ và chính sách của Hoa Kỳ cho Phật giáo. [4]

2 .Văn thư khiếu nại về đàn áp Phật giáo.

Sau vụ binh biến 1/11/1963 một Phật tử trao cho tôi 125 văn thư khiếu nại về các cuộc đàn áp Phật Giáo đồ, cho biết văn thư có nhiều để ở chùa Xá Lợi và đêm quân đội tấn công lục soát chùa 20/8/1963 đã bị lấy đi mất cả, chỉ còn lại chừng này. Những văn thư khiếu nại của các Khuôn hội cấp xã quận, cấp tỉnh giữa chính quyển các cấp và của Phật Giáo Trung phần gửi tổng thống VNCH, gửi Chủ tịch quốc hội, khiếu nại về nhiều vụ như cưỡng bách Phật tử bỏ đạo Phật theo đạo Chúa, bắt bớ, giam cầm, tra khảo, hăm doạ, vu khống, phá phách chùa chiền, có người bị đánh đập đến chết. Như vậy những văn thư này cho thấy quả thật có những vụ đàn áp, tàn sát người theo đạo Phật vì lý do tôn giáo hay vì những lý do khác. Tại sao những vụ này chỉ xảy ra ở Miền Trung, đặc biệt trong ba tỉnh Phú Yên, Quãng Ngãi, Bình Định. Đọc tài liệu báo cáo của Phái Đoàn Điều Tra Liên Hiệp Quốc không thấy nói có chương trình đi thăm ba tỉnh kể trên, mặc dù có mấy nhân chứng được phái đoàn gặp đã nhắc đến mấy vụ đàn áp, mà lại đi thăm Phan Rang, Phan Thiết là hai tỉnh cực Nam của Miền Trung; không thấy nói có những vụ đối xử với người theo đạo Phật tương tự ở 3 tỉnh kia. Tại sao vậy?

Một thắc mắc khác, những văn thư khiếu nại, nhất là văn thư gửi cho Phủ Tổng Thống, Quốc Hội, có được chuyển đến những nơi đó không, hay bị giữ lại ở văn phòng Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung?

Theo một nguồn tin thời đó, khi xảy ra vụ Phật Giáo ở Miền Trung Phủ Tổng Thống ngạc nhiên, vì không hay biềt gì cả. Nếu thật sự như vậy, tại sao ông Cẩn không trình báo cho Phủ Tổng Thống? Còn chính nội dung những việc tố cáo, sự thật ra sao? muốn biết, thiết tưởng không có cách náo khác là đến tại chỗ điều tra, hỏi những người trách nhiệm và nhân chứng. Nhưng sau 40 năm, còn bao nhiêu nhân chứng và nếu còn, liệu có người nào có thể nói lên sự thật một cách trung thực? Trung thực đến mức nào, khi năm tháng chồng chất ảnh hưởng đến ký ức từng cá nhân.

Một cách tổng quát có thể ghi nhận: 3 tỉnh có nhiều văn thư khiếu tố kể trên đều thuộc vùng Việt Minh kiểm soát từ 1945 cho đến hiệp định Geneve 1954, chuyển sang chính quyền Quốc gia. Có những người gốc Phật Giáo theo kháng chiến, bây giờ theo quốc gia, công khai hay lén lút « nằm vùng » trong các khuôn hội Phật Giáo. Trong một tình hình như vậy, thật dễ hiểu nếu xảy ra những vụ ân oán trả thù. Tình trạng ân oán này càng trầm trọng hơn trước một « chính sách đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật » và dùng baọ lực để tiêu diệt cộng sản. ĐCTĐBMT lùng bắt hầu hết các cán bộ đảng viên trung, cao cấp (quận tỉnh) và cấp liên khu. Nhưng còn cấp xã thì sao? Liệu Đoàn CT có kiểm soát được những vụ bắt bớ hay không? hoặc mặc cho cán bộ cấp xã tự do thao túng? Trường hợp không kiểm soát được cán bộ cấp xã, làm sao tránh khỏi những quy chụp oan uổng để bắt bớ và bức hại. Những thắc mắc này xin gửi đến ông Dương Văn Hiếu, và các ông Hồ Đắc Trọng, Nguyễn văn Minh thường trực ở văn phòng Cố Vấn Chỉ Đạo và Thượng Toạ Trí Quang, người hợp tác với ông Ngô Đình Cẩn, điều hành đường lối Phật Giáo ở miền Trung.

Một trí thức Phật Giáo tranh đấu trao cho tôi xấp văn thư này ở toà soạn Bách Khoa sau đảo chính 1963. Những văn thư này gồm 2 loại, bản đánh máy nguyên bản thành nhiều bản, bản của tôi còn khá rõ đọc được, bản quay roneo các văn thư được sắp xếp thành hồ sơ theo tỉnh ở một thời gian nhất định, chẳng hạn hồ sơ đàn áp Phật Giáo đồ tỉnh Phú Yên năm 1960-1961.

Những người bị bắt tù đày là người theo Phật giáo, nhưng về chính trị họ theo các đảng Cộng sản, Đại việt, VN quốc dân đảng …. mấy tỉnh Miền Trung này dưới quyền kiểm soát của Việt Minh cho đến 1954. Việt Minh có chủ trương diệt đảng phái. Sau 1954 làm sao VNQuốc Dân Đảng, Đại Việt, lại có thế tránh khỏi sự trả thù những người bị coi là cộng sản: “Đại Việt Miền Trung bắt được kháng chiến cộng sản là họ mang ra làm thịt còn lẹ hơn cả cậu Cẩn, vì ĐV không có chỗ nhốt tù (Bội phản hay chân chính?, trang 312)”.

Mật vụ ộng Cẩn cũng không dung dưỡng ĐV, VNQDĐ. Họ bị bắt, và nhốt chung với cán bộ cộng sản. Lãnh tụ ÐV Hà Thúc Ký bị mật vụ bắt giam, sau 1963, được tự do, khi làm Bộ trưởng bộ Nội vụ, ông ta ra lệnh thả tất cả tù cộng sản đã bị giam trong tù ông Cẩn đồng thời với mình.

Trên thực tế, Miền Trung thời đó, không có phe nhóm nào tôn trọng nhân quyền. Một hiện tượng phi lý nhưng có thật: Hàng loạt người đi theo đạo Chúa. Ai chủ trương và nhằm mục đích gì.? Giáo phẩm và chính phủ không thể làm như thế. Theo ông Nhu trong bài trả lời Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc, đó là thủ đoạn của cộng sản bắn một mũi tên giết hai con chim: Đưa người của mình theo đạo hàng loạt, rồi tung ra luận điệu tố cáo Công Giáo cấu kết với chính quyền gây chia rẽ oán thù tôn giáo, đồng thời đảm bảo an ninh cho của người của mình vì là công giáo. Ông Nhu cho biết những làng có hàng loạt người theo đạo Chúa như vậy là mối lo ngại hàng đầu về an ninh của chính quyền. Có lẽ vì thực tế phức tạp và khó tin chính phủ kỳ thị kiểu đó, đồng thời đụng đến giáo phẩm, mà nếu được yêu cầu xác nhận thì giáo hội sẽ phủ nhận, nên những vụ đàn áp ở Miền Trung không được đưa vào chương trình nghị sự điều tra của Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc.

VII. Thượng toạ Trí Quang.

Một nhân vật lãnh đạo Phật Giáo liên hệ mật thiết vối các biến cố từ 1963 có nhiều bí ẩn và do đó có nhiều ý kiến trái ngược về con người và lập trường chính trị của ông, đặc biệt về hai điểm then chốt:

- ông là chân tu hay chỉ là một người làm chính trị đội lốt nhà tu,
- ông là cộng sản hay chỉ lợi dụng cộng sản

Do đó, vai trò thực sự của ông trong vụ Phật Giáo, trong thời gian ở Huế cộng tác với Ngô Đình Cẩn và thời gian ở Sài Gòn, sau khi ông Cẩn bị xử bắn?

Về điểm thứ nhất, xin thuật lại những lời kể của giáo sư Trần Thái Đỉnh với tôi: «Lúc tôi làm giám đốc đại chủng viện Huế trước 1963, một hôm đi phố mua sách Phật gặp một nhà sư vái tôi, tự xưng là Trí Quang, muốn làm quen tiếp xúc với tôi để đàm đạo về Phật học, vì đọc các bài tôi viết và nghe các đệ tử đi học triết học Phật Giáo tôi giảng ở Huế, cảm phục tôi hiểu Phật học, mời tôi lên chùa Từ Đàm. Tôi lên xin phép Ðức cha Điền, Giám mục địa phận Huế. Ngài nói không những tôi cho phép cha mà còn yêu cầu cha lên gặp thầy Trí Quang. Sau đó tôi thường lên chùa trao đổi Phật học và ăn cơm chay, đôi khi có cả cha Luận, Lãnh Sự Mỹ và mấy giáo sư đại học. Thày Trí Quang ngồi cạnh tôi và sau bữa ăn tiễn tôi xuống hết đồi chùa Từ Đàm. Có lần, thời ông Diệm, thầy trí Quang nói với tôi: Linh mục xem Bộ trưởng,